Skip Ribbon Commands
Skip to main content
SKHCN > chitiettin
 

 Chi tiết tin

 
Quế vỏ Trà My chỉ dẫn địa lý được bảo hộ
Đăng bởi Ánh Tuyết .Vào ngày 25/11/2015. Đã xem 3515 lượt
Quế sinh trưởng, phát triển, tồn tại lâu đời trên vùng đất Trà My, được coi là giống bản địa, còn được biết đến với tên gọi “Cao sơn Ngọc quế”, là loại quế được thế giới ưa chuộng, có giá trị cao so với các loại quế khác và đã trở thành hình ảnh gần gũi, thân thương, một sản phẩm có giá trị về mặt kinh tế và tinh thần của đồng bào Ca Dong, Mơ Nông.

 Nhiều năm qua, công việc nuôi trồng và sản xuất các sản phẩm từ quế đã đi vào cuộc sống, không thể tách rời với cuộc sống của bà con các dân tộc, đặc biệt nó được xem như là một tài sản lớn của gia đình, là của để dành làm các việc lớn trong gia đình như làm nhà, cưới vợ cho con cái, làm của hồi môn cho con cháu. Việc trồng quế đã trở thành truyền thống trong mỗi dịp năm mới của đồng bào người Ca Dong, Mơ Nông,..., nhiều cây quế đã được ghi tên chính người trồng ra nó. Đây là nét độc đáo của sản phẩm quế Trà My.

Xuất phát nhu cầu bảo tồn và phát triển giá trị, danh tiếng quế Trà My, Dự án: “Xây dựng chỉ dẫn địa lý Trà My cho sản phẩm quế của tỉnh Quảng Nam” thuộc Chương trình hỗ trợ phát triển tài sản trí tuệ của doanh nghiệp đã được Sở Khoa học và Công nghệ thực hiện hoàn thành từ tháng 6/2008 đến tháng 10/2010.  Kết quả của Dự án là đã được Hội đồng nghiệm thu của Bộ Khoa học và Công nghệ đánh giá, xếp loại khá và được Cục Sở hữu trí tuệ cấp Giấy chứng nhận đăng ký chỉ dẫn địa lý Trà My cho sản phẩm quế vỏ số 00029 theo Quyết định số 2293/QĐ-SHTT ngày 13/10/2011, đây là tiền đề để nâng cao uy tín của sản phẩm trên thị trường trong và ngoài nước đồng thời nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất lâm nghiệp trên địa bàn huyện Bắc Trà My, Nam Trà My nói riêng và góp phần thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Quảng Nam.

        Đặc biệt, được sự quan tâm và hỗ trợ thuộc Chương trình hỗ trợ phát triển tài sản trí tuệ của doanh nghiệp, Sở Khoa học và Công nghệ Quảng Nam được tiếp tục giao chủ trì thực hiện Dự án Quản lý và phát triển Chỉ dẫn địa lý “Trà My” cho sản phẩm quế của tỉnh Quảng Nam giai đoạn từ năm 2013 đến năm 2015 theo Quyết định số 860/QĐ-BKHCN ngày 10/05/2012 của Bộ Khoa học và Công nghệ về việc phê duyệt danh mục các dự án để tuyển chọn thực hiện bổ sung năm 2013-2014 – đây là chìa khóa để áp dụng chỉ dẫn địa lý quế Trà My vận hành vào thực tế. Cùng với đó, Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Nam đã ban hành các chính sách nhằm quản lý và sử dụng chỉ dẫn địa lý Trà My nhằm quản lý chất lượng sản phẩm quế vỏ bản địa, truy xuất nguồn gốc, nhãn hàng hóa sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý Trà My.

        Theo đó, các sản phẩm quế mang chỉ dẫn địa lý Trà My phải đáp ứng các yêu cầu về chất lượng đặc thù, quy trình kỹ thuật sản xuất và biểu tượng logo theo quy định chặt chẽ như sau:

 I. CHẤT LƯỢNG ĐẶC THÙ CỦA QUẾ VỎ MANG CHỈ DẪN ĐỊA LÝ TRÀ MY

        Chỉ dẫn địa lý Trà My cho sản phẩm quế vỏ là sản phẩm quế vỏ có những tính chất chất lượng đặc thù sau:

1. Cảm quan:      

Vỏ quế xù xì, bên ngoài có màu xám nâu, có rất nhiều các vết loang lổ địa y và rêu màu xám xanh, mật độ rêu và địa y càng xuống gần gốc càng dày, từ độ cao 1,3 m đến cành có nhiều mấu mắt. Bên trong có màu vàng nhạt đến vàng sậm, để ra không khí sau một thời gian ngắn chuyển màu nâu vàng.

Độ dầy vỏ và độ dầy lớp tinh dầu quế Trà My

TT

Chỉ tiêu về hình thái

Đơn vị

đo

Ngưỡng dưới

Ngưỡng trên

1

Độ dày vỏ gốc (Dưới 1,3 m)

mm

4,88

8,58

 

Độ dày lớp tinh dầu vỏ gốc

mm

2,34

3,32

2

Độ dầy vỏ thân (Từ 1,3 m đến phân cành)

mm

3,90

6,46

 

Độ dày lớp tinh dầu vỏ thân

mm

1,38

2,66

3

Độ dày vỏ ngọn (Từ phân cành đến ngọn)

mm

2,08

4,24

 

Độ dày lớp tinh dầu vỏ ngọn

mm

0,62

1,84

4

Độ dầy vỏ cành

mm

1,20

3,10

 

Độ dày lớp tinh dầu vỏ cành

mm

0,44

0,80

2.  Chất lượng Quế Trà My

Quế Trà My có hàm lượng tinh dầu cao, chất lượng tinh dầu tốt thể hiện qua các chỉ tiêu chất lượng của quế thân (gồm vỏ gốc, vỏ thân, vỏ ngọn) và quế cành (vỏ cành).

a) Đặc thù về chất lượng quế thân:

Chỉ tiêu chất lượng

Khoảng giá trị

Hàm lượng ẩm (%)

14,05 - 15,06

Chỉ số khúc xạ của tinh dầu (nD25)

1,6063 - 1,6144

Tỷ trọng của tinh dầu (d25)

1,0477 - 1,0554

Hàm lượng tinh dầu (%,v/w)

8,93 - 10,91

Hàm lượng Aldehyt cinnamic trong tinh dầu (%,v/w)

89,83 - 93,43

 b) Đặc thù về chất lượng quế cành:

Chỉ tiêu chất lượng

Khoảng giá trị

Hàm lượng ẩm (%)

13,88 - 14,89

Chỉ số khúc xạ của tinh dầu (nD25)

1,6005 - 1,6152

Tỷ trọng của tinh dầu (d25)

1,0464 - 1,0545

Hàm lượng tinh dầu (%,v/w)

8,30 - 10,26

Hàm lượng Aldehyt cinnamic trong tinh dầu (%,v/w)

89,72 - 93,66

II. QUY TRÌNH KỸ THUẬT SẢN XUẤT QUẾ VỎ MANG CHỈ DẪN ĐỊA LÝ TRÀ MY

1. Xác định giống quế

Cây quế Trà My sinh trưởng, phát triển, tồn tại lâu đời trên vùng đất Trà My (nay thuộc huyện Bắc Trà My và Nam Trà My). Quế Trà My được biết đến với cái tên “Cao sơn Ngọc quế”, là loại quế được thế giới ưa chuộng, có giá trị cao so với các loại quế khác và đã trở thành hình ảnh gần gũi, thân thương, một sản phẩm có giá trị về mặt kinh tế và tinh thần của đồng bào Ca Dong, Mơ Nông...

Cho đến nay, quế được trồng tại Trà My có hai loại chính; loại quế truyền thống (người dân trong vùng gọi là quế nội) được xác định tên khoa học là Cinnamomum obtusifolium Nees và quế Bắc (hay là quế Thanh Hóa) được xác định tên khoa học là Cinnamomum loureirii Nees.

Hai giống quế trên có những nét khác nhau cơ bản về hình thái lá, quả, chiều cao cây, vỏ. Theo kinh nghiệm của người dân, quế nội phát triển chậm hơn quế Bắc, nhưng vỏ dày hơn, hàm lượng tinh dầu nhiều hơn, trong vỏ quế nội có lớp dầu dày và ít “sạn”, ngược lại quế Bắc có nhiều “sạn” hơn, giá bán quế nội đắt hơn từ ba đến bốn lần so với quế Bắc trồng tại Trà My.

         2. Về cách chọn, lấy giống và gieo giống và chăm sóc cây con.

Do đặc thù của giống quế Trà My mọc chậm hơn so với những giống quế khác, nên cách chọn giống cần phải tính đến chu kỳ cây được ngắn lại. Từ trước đây và cho đến bây giờ, để lựa chọn được các cây giống quế Trà My tốt nhất bà con dân tộc nơi đây vẫn chọn lọc giống theo 2 cách như sau:

- Lựa chọn những cây quế ngoài 20 tuổi sau khi thu hoạch không bị sâu bệnh và có chất lượng quế tốt tiến hành chặt đến sát mặt đất, sau đó lấp đất lên gốc quế vừa chặt. Sau một mùa mưa từ các gốc cây này sẽ mọc lên những cây con và đây là những cây giống được bà con mang đi trồng.

- Ngoài việc chọn giống truyền thống trên, đồng bào còn chọn giống bằng hạt. Theo kinh nghiệm của đồng bào nơi đây thường lựa chọn những cây có độ tuổi trên 20 năm, không bị sâu bệnh, có vỏ dày cho hàm lượng tinh dầu cao, có tán rộng, cao và đã ra hoa và quả ổn định từ 3 đến 4 năm sẽ được chọn làm cây giống. Thu hạt quế từ các cây này, thường thu từ cuối tháng 12, thời gian thu hái rộ nhất là sau Tết Nguyên đán, khi quả chín vỏ thường có mầu tím, thịt quả xốp có mùi thơm, hạt bên trong mầu đen và cứng.

+ Thu hái bằng cách trèo lên cây hái từng chùm, hoặc nhặt hạt rụng dưới gốc. Hạt quế là loại hạt có dầu, khi bảo quản nếu gặp nhiệt độ cao, ẩm độ thấp, ánh sáng trực diện mạnh thì rất dễ bị chảy dầu mất khả năng nảy mầm vì vậy bảo quản hạt giống trong cát ẩm ở nhiệt độ thông thường: độ ẩm của hạt khi đưa vào bảo quản là từ 34 - 35 %. Hạt bảo quản được đánh thành từng luống, cao không quá 20 cm, bề rộng luống từ 80 - 100 cm, đặc biệt phải chú ý chánh không để hạt bị chiếu nắng hoặc mưa dột. Trong quá trình bảo quản, cứ 3 - 5 ngày đảo lại 1 lượt, nếu cát bị khô phải bổ sung thêm nước (phải sàng tách riêng hạt và cát khi tưới thêm nước). Kiểu bảo quản này có thể duy trì sức sống của hạt 1 tháng với tỷ lệ nảy mầm suy giảm từ 5 - 10 %.

+ Gieo hạt: Hạt quế sau khi được ủ và nứt nanh, đem gieo trực tiếp vào bầu với thành phần 80% đất tầng mặt + 20% phân chuồng hoai, thời vụ gieo tốt nhất là tháng 2-3. Mỗi bầu gieo 2 hạt, sau khi cây mọc tuyển chọn giữ lại 1 cây tốt nhất để đem trồng.

+ Chăm sóc cây con: Từ 1 -3 tháng đầu che bóng 70-80%, tránh ánh sáng trực xạ; Từ 4- 5 tháng tuổi che bón 40-50%; Từ tháng thứ 7 cần dỡ bỏ giàn che dần cho đến trước khi đem cây con đi trồng. Thông thường, cây đạt từ 1,5 tuổi đưa đi trồng là tốt nhất, lúc này cây cao khoảng 50-70 cm, đường kính cổ rễ 4 -5 mm, cây khỏe chưa ra ngọn non.

3. Chọn đất trồng quế

Quế có thể trồng trên nhiều loại đất khác nhau (Trừ đất đá vôi, đất cát, đất ngập úng); độ dày tầng đất trên 50 cm; đất ẩm nhưng thoát nước tốt; đất giàu mùn (OM > 3 %); độ pHKCl từ 4,0 - 5,5. Quế sinh trưởng tốt nhất trên các loại đất còn mang tính chất đất rừng. Quế bị hạn chế với các loại đất có thảm thực bì là Sim, Mua. Độ cao trồng quế thích hợp từ  350  - 800 m so với mực nước biển, độ dốc không vượt quá 30O.

        4. Về  kỹ  thuật  trồng

Quế được trồng từ ngày 15 tháng 9 đến 30 tháng 11 hằng năm, khi đã có mưa nhiều, đất ẩm, thời tiết dịu và để tránh được gió nóng mùa hè. Trồng vào thời điểm râm mát, mư­a nhỏ hoặc nắng nhẹ và đất trong hố phải đủ ẩm. Dùng cuốc nhỏ hoặc bay đào một hố rộng và sâu hơn chiều dài bầu 1-2 cm ở vị trí giữa hố đã lấp. Xé bỏ vỏ bầu và đặt cây con thẳng đứng vào giữa hố, tránh làm vỡ bầu. Dùng đất tơi xốp lấp đầy hố, lèn chặt xung quanh bầu và vun thêm đất vào gốc cây thành hình mâm xôi, cao hơn mặt đất tự nhiên khoảng 3 - 5 cm. Có thể dùng tay hoặc chân dẫm cho đất chặt, nhưng không để vỡ bầu cây.

Quế được trồng xen trên các dạng lập địa phù hợp, trồng theo rạch, song song với đường đồng mức. Trên mỗi rạch trồng 1 hàng, chú ý để cây che bóng mát cho quế trong giai đoạn từ 3 - 5 năm tuổi, theo kinh nghiệm của dân nếu trồng thuần quế Trà My trên đất mới phát và không có cây che mát quế sẽ dễ bị chết.

Mật độ trồng quế phụ thuộc vào cường độ và mục đích kinh doanh, ở những nơi có cường độ kinh doanh cao, có khả năng tận thu hết sản phẩm trung gian, mật độ trồng có thể 2.000 - 2.500 cây/ha, nhưng mật độ trồng quế phổ biến chỉ có từ 1.000-2.000 cây/ha. Ngoài ra, quế được gây trồng trong vườn hộ gia đình xung quanh làng bản, quế cũng được gây trồng trên nương rẫy, đồi núi tạo thành vùng quế tập trung có diện tích lớn hơn, đặc biệt theo phương thức nông lâm kết hợp, có thể lấy cây ngắn ngày nuôi cây dài ngày và đem lại hiệu quả sản xuất cao hơn. Một nét đặc thù của bà con dân tộc trong vùng này khi trồng quế là có thể tận dụng bất cứ vùng đất trống nào trên đường đi làm rẫy để trồng quế, vì vậy những cây quế phát triển như những cây tự nhiên xen với các cây khác, đi đến đâu cũng có cây quế mọc, các cây quế này sau khi được trồng 5 đến 6 năm sẽ được đánh dấu tên lên cây để phân biệt quế thuộc sở hữu của ai, tuy nhiên thời gian thu hoạch của những cây quế này thường trên 20 năm nhưng chất lượng quế rất cao.

          5. Về  kỹ  thuật chăm sóc rừng quế

Sau khi trồng 20 - 30 ngày, nếu tỷ lệ sống đạt d­ưới 80 % phải trồng dặm. Trong 3 năm đầu nếu tỷ lệ sống hàng năm không đạt 80 % mật độ trồng ban đầu thì phải tiếp tục trồng dặm. Cây cần được chăm sóc liên tục trong 6 năm, đặc biệt trong 4 năm đầu với việc trồng dặm những cây chết, phát dọn dây leo, cây bụi và cỏ dại xung quanh cây trồng rộng 60 cm, xới đất xung quanh hố với đ­ường kính rộng 50 cm, sâu 4 – 5 cm và vun gốc. Khi rừng quế trồng ở độ tuổi 3 - 4, yêu cầu về ánh sáng của quế tăng dần. Ngoài việc phát dọn cây bụi, cỏ dại chen lấn cây trồng, cần phải tiến hành chặt bỏ cây tái sinh phi mục đích che ánh sáng của cây quế. Từ tuổi thứ 7 trở lên, cây quế cần ánh sáng hoàn toàn. Nếu ở giai đoạn này cây quế bị chèn ép ánh sáng thì sinh trưởng của nó bị giảm rõ rệt. Khi rừng trồng được 10 tuổi, cây quế chiếm ưu thế tuyệt đối trong tổ thành cây rừng. Trong giai đoạn này việc cần thiết là tỉa những cành khô, cành thấp không có khả năng quang hợp và đặc biệt là chống cháy.

Giai đoạn rừng quế 15 - 20 tuổi, cây quế có khả năng đạt được chiều cao từ 10 - 15 m và đường kính ngực 20 – 25 cm, có thể tiến hành khai thác quế và bóc được quế  kẹp. Cường độ tỉa thưa không vượt quá 30 % số cây trong rừng. Ở tuổi này, quế đã bắt đầu ra quả và dưới tán rừng quế đã bắt đầu xuất hiện cây tái sinh bằng hạt, cần tiến hành các biện pháp kỹ thuật nhằm nuôi dưỡng cây quế cùng các loài cây khác để tái lập rừng hỗn giao.

            6. Phòng trừ sâu, bệnh hại

Những loại sâu hay tấn công quế là: Tằm ăn lá, sâu róm, sâu đục thân…những loại sâu trên hay tấn công quế khi câu còn non, vì vậy cần theo dõi ngay từ khi cây ở giai đoạn vườn ươm. Đối với sâu đục thân, khi phát hiện cần nhổ cây đem đốt khi còn non, khi cây đã lớn cần chặt bỏ ngay khi cây bị sâu hại nặng.

Bệnh đốm lá, bệnh cháy lá, bệnh thối cổ rễ: cần cắt bỏ lá bị bệnh và phun boocđô 1% để ngừa xâm nhiễm.

Bệnh thối gốc hay thượng tầng cành, bệnh tua mưc: đối với quế Trà My tại vùng Quảng Nam bệnh tua mực là đáng lo ngại nhất, tuy nhiên đến nay vẫn chưa có biện pháp nào phòng trừ hiệu quả. Cách tốt nhất là tạo điều kiện thông thoáng cho rừng quế bằng cách tỉa thưa hoặc trồng mật độ thưa.

7. Kỹ thuật  thu hoạch và  bảo quản

Giai đoạn rừng quế 15 - 20 tuổi, tiến hành thu hoạch, thường áp dụng các phư­ơng thức khai thác toàn bộ vỏ cây trong một mùa khai thác (khai thác trắng). Quế tại Trà My được khai thác vỏ vào hai vụ là Vụ Xuân vào các tháng 2 và 3, thời tiết ít mưa, nắng ấm, rất thích hợp cho khai thác, chế biến và bảo quản vỏ quế. Vụ Thu (vụ hậu) vào các tháng 8, tháng 9  thường có mưa nhiều, dễ làm cho vỏ quế dễ bị bóc ra khỏi thân cây, nhưng khó bảo quản. Vụ thu hoạch chính tại vùng Trà My là vụ Xuân, vào vụ Thu người dân chỉ khai thác theo hình thức đốn tỉa, chủ yếu đối với các vườn quế trồng dày hoặc cần thiết trong vấn đề chi tiêu của gia đình. Chiều dài khoanh vỏ được áp dụng phổ biến là từ 40 - 60 cm tùy thuộc vào mục đích chế biến vỏ quế theo dạng nào. Kỹ thuật khai thác cũng ảnh hưởng ít nhiều đến chất lượng sau này của vỏ quế, dùng dao sắc khoanh vòng trên thân quế, sau đó dùng một thanh tre mỏng tách nhẹ vỏ quế ra khỏi thân, vì vậy hai đầu và mép của thanh quế sẽ hạn chế dập nát khi khai thác.

-   Kỹ thuật bảo quản và chế biến vỏ quế cũng đóng vai trò khá quan trọng đối với chất lượng quế thương phẩm. Vỏ quế bóc xong, đem phơi khô, phân loại và đóng vào các hòm gỗ có bọc túi polylen hoặc giấy hút ẩm. Yêu cầu chính là quế không bị mốc, không bị mất mùi vị, đảm bảo các tiêu chuẩn về thực phẩm. Quế được bảo quản tại nơi khô ráo, nhiệt độ thích hợp, không để quế lẫn xăng dầu, hóa chất, nước mắm, cá…Theo kinh nghiệm của người dân trong vùng khi khai thác vỏ quế nếu gặp trời mưa thì phải nhanh chóng lấy nước suối hoặc nước giếng rửa hết tất cả các vỏ quế vừa bóc ra sau đó phải quạt khô, nếu để nước mưa ngấm vào thì vỏ quế sẽ bị đen, hàm lượng và chất lượng tinh dầu bị giảm sút.

-  Kỹ thuật chế biến vỏ quế trong vùng cũng là một nét đặc thù riêng mang lại danh tiếng cho quế Trà My từ trước đến nay đó là các loại quế Kẹp, quế Ống.., kỹ thuật chế biến thành các sản phẩm này rất tỉ mỉ và công phu. Để chế biến được quế Kẹp tốt phải tốn nhiều công sức từ việc chọn được cây quế tốt, xác định vị trí và quy cách lấy vỏ, bóc vỏ, xử lý vỏ, tạo dáng đẹp; tẩm phơi khô thường mất từ 15 đến 20 ngày. Để tạo dáng đẹp cho thanh vỏ quế, trước khi cho thanh quế lên bàn kẹp để uốn hình, vỏ quế thường được ủ 3-4 ngày cho vỏ dai, mềm dễ uốn, tinh dầu trong vỏ đã tương đối ổn định. Trong khi ủ không để lòng thanh quế bị ẩm mốc, có nơi nhân dân thường dùng rượu hoặc cồn lau sạch lòng thanh quế. Bàn kẹp gồm một số thanh tre hoặc gỗ dùng để uốn thanh quế thành hình theo ý muốn. Trong quá trình tạo dáng vỏ quế được phơi nơi khô ráo thoáng gió, tránh ánh nắng trực diện hoặc nơi có nhiệt độ cao, khi phơi lòng thanh quế úp xuống phía dưới để hạn chế sự bay hơi của dầu. Quá trình phơi thường kéo dài 8-10 ngày, bàn kẹp luôn luôn phải siết chặt để giữ cho thanh quế, phân loại và đem bảo quản. Có nơi nhân dân vát hai đầu thanh quế lộ ra phần nhục quế hoặc dùng sáp ong để bịt hai đầu quế. Quế được bảo quản trong hộp kẽm hoặc trong các hòm gỗ có bọc nhiều lớp vải mỏng và mềm, làm như vậy có thể bảo quản được quế rất lâu không bị mất dầu và mùi vị.

Các kỹ thuật trên đã tạo cho quế Trà My có những đặc thù riêng biệt. Từ kỹ thuật lựa chọn cây giống, đến kỹ thuật chăm sóc, thu hoạch và bảo quản chế biến vỏ quế, các kỹ thuật này gắn bó với người dân Trà My như là một kinh nghiệm được truyền từ đời này sang đời khác.

Sơ đồ quy trình thu hoạch và bảo quản quế như sau:

 
 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 III. QUY ĐỊNH VỀ BIỂU TƯỢNG (LOGO) CỦA CHỈ DẪN ĐỊA LÝ TRÀ MY CHO SẢN PHẨM QUẾ.

Bố cục chính sử dụng trong hệ thống logo là hình tròn, logo sử dụng hình ảnh bó quế được cách điệu làm yếu tố hình trang trí cho toàn bộ cụm thiết kế. Đồng thời, sử dụng hình ảnh cách điệu 5 nhánh quế làm nền mờ, năm nhánh này cũng tượng trưng cho những cánh hoa quế mỏng manh.

  Màu sắc sử dụng là màu đỏ và xen vào đó là một chút màu xanh lạnh của lá quế, màu xanh của rừng.

Cụm từ “Trà My - Quảng Nam” được sử dụng font chữ Davida Bd Bt, bố trí nổi bật nhất để nhận diện, phân biệt với các vùng Chỉ dẫn địa lý khác.

Chữ “Cao sơn ngọc quế” được sử dụng font chữ Arial với cả ngôn ngữ tiếng Việt và tiếng Anh để thể hiện tính chất hội nhập thế giới với bạn hàng nước ngoài về sản phẩm quế vỏ Trà My.

Logo (biểu tượng) Chỉ dẫn địa lý Trà My dùng cho sản phẩm quế vỏ

  Với những điều kiện đặc thù để được công nhận và bảo hộ như đã nêu trên, chỉ dẫn địa lý quế Trà My đóng vai trò như sự đảm bảo rằng sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý có được chất lượng nhất định theo phương pháp sản xuất truyền thống hoặc có được uy tín nhờ xuất xứ địa lý vùng miền. Chính vì lý do này, sản phẩm mang chỉ dẫn địa quế Trà My đồng nghĩa với sản phẩm được công nhận và đảm bảo chất lượng, và do vậy thường mang tính cạnh tranh cao hơn các sản phẩm mang chỉ nhãn hiệu thông thường.

Để đảm bảo quyền sử dụng Chỉ dẫn địa lý hợp pháp cho các cơ sở có đủ điều kiện sử dụng; ngăn chặn và xử lý các hành vi sử dụng trái phép Chỉ dẫn địa lý Trà My cho sản phẩm quế vỏ của tỉnh Quảng Nam. Đồng thời, đảm bảo sản phẩm quế vỏ mang Chỉ dẫn địa lý Trà My đáp ứng các điều kiện quy định về chất lượng, xuất xứ nhằm duy trì danh tiếng, uy tín của sản phẩm; giữ gìn và phát triển Chỉ dẫn địa lý Trà My cho sản phẩm quế vỏ, hỗ trợ các cơ sở sản xuất, kinh doanh sản phẩm quế Trà My nâng cao hiệu quả, tăng khả năng cạnh tranh của sản phẩm quế trên thị trường; đồng thời, đảm bảo cho người tiêu dùng được sử dụng sản phẩm đáp ứng yêu cầu về chất lượng, ngày 26/01/2015 UBND tỉnh Quảng Nam ban hành Quyết định số 04/2015/QĐ-UBND về việc ban hành quy chế quản lý và sử dụng chỉ dẫn địa lý Trà My cho sản phẩm quế vỏ của tỉnh Quảng Nam và đây là cơ sở để quản lý và phát triển chỉ dẫn địa lý quế Trà My.

[Trở về]
 
Tin mới hơn
TẠO LẬP, QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG NHÃN HIỆU LÀ CƠ SỞ PHÁT TRIỂN CÁC SẢN PHẨM ĐẶC TRƯNG CỦA TỈNH QUẢNG NAM
PHÁT TRIỂN THƯƠNG HIỆU TƠ, LỤA QUẢNG NAM
Ứng dụng khoa học công nghệ trong việc trồng sâm, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tham gia phát triển sản phẩm sâm
Hội sâm núi Ngọc Linh và quế Trà My Quảng Nam
Đào tạo về an toàn, kiểm soát bức xạ và hạt nhân
Diễn tập ứng phó sự cố bức xạ và hạt nhân trên địa bàn tỉnh Quảng Nam năm 2017
MỘT SỐ TÍNH CHẤT, CHẤT LƯỢNG, DANH TIẾNG CỦA SẢN PHẨM SÂM CỦ MANG CHỈ DẪN ĐỊA LÝ “NGỌC LINH”
YẾU TỐ ĐẶC THÙ VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÙNG TRỒNG SÂM NGỌC LINH
Mở rộng Hội Quế Trà My gắn với phát triển sâm Ngọc Linh
Tập huấn đăng ký và khai thác sáng kiến
NGUYÊN LÝ LÀM VIỆC CỦA MÁY X QUANG VÀ CÁC KHÍA CẠNH TỐI ƯU HÓA AN TOÀN BỨC XẠ TRONG X QUANG CHẨN ĐOÁN TRONG Y TẾ
Tập huấn về công tác thực thi quyền sở hữu trí tuệ
HOÀN THIỆN, NỘP BỔ SUNG VÀ GIA HẠN THỜI GIAN NỘP HỒ SƠ XÉT, CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN CẤP TỈNH
Một số văn bản, tài liệu liên quan đến hoạt động sáng kiến
NGHIỆM THU DỰ ÁN “QUẢN LÝ VÀ PHÁT TRIỂN CHỈ DẪN ĐỊA LÝ TRÀ MY CHO SẢN PHẨM QUẾ CỦA TỈNH QUẢNG NAM”
TẬP HUẤN HƯỚNG DẪN KIẾN THỨC VỀ ỨNG PHÓ SỰ CỐ BỨC XẠ HẠT NHÂN
Đầu Trước Sau Cuối
Tin cũ hơn
Cấp lại giấy chứng nhận tổ chức đủ điều kiện hoạt động giám định sở hữu công nghiệp
Cấp giấy chứng nhận tổ chức đủ điều kiện hoạt động giám định sở hữu công nghiệp.
Trang 1 của 1 Đầu Trước Sau Cuối