Skip Ribbon Commands
Skip to main content
SKHCN > chitiettin
 

 Chi tiết tin

 
Hoạt động khoa học và công nghệ cấp huyện, một số kết quả nổi bật và những vấn đề cần quan tâm
Đăng bởi VanHoang .Vào ngày 04/12/2015. Đã xem 3224 lượt
Hoạt động khoa học và công nghệ cấp huyện, một số kết quả nổi bật và những vấn đề cần quan tâm

 

Hoạt động khoa học và công nghệ cấp huyện, một số kết quả nổi bật và những vấn đề cần quan tâm

 

Phòng Quản lý KH&CN cơ sở

Công tác quản lý nhà nước về KH&CN cấp huyện bắt đầu triển khai từ năm 2005. Sau 10 năm, các hoạt động này đã dần được ổn định, củng cố và ngày càng đi vào chiều sâu. Đóng góp tích cực vào quá trình phát triển kinh tế xã hội tại các địa phương.

Sau nhiều lần điều chỉnh, hiện nay, chức năng tham mưu quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ (KH&CN) cấp huyện được giao cho Phòng Kinh tế và Hạ tầng (tại các huyện) hoặc Phòng Kinh tế (tại các thành phố, thị xã). Tất cả các địa phương đã phân công cán bộ lãnh đạo, bố trí chuyên viên kiêm nhiệm phụ trách lĩnh vực KH&CN. Một số địa phương đã có cán bộ biên chế chuyên trách về KH&CN như Hội An, Đại Lộc. Các địa phương cũng đã thành lập Hội đồng Khoa học và Công nghệ (Hội đồng) nhằm tư vấn cho Uỷ ban nhân dân huyện/thành phố/thị xã (gọi tắt là huyện) về định hướng phát triển KH&CN, xác định các nhiệm vụ KH&CN hằng năm và 5 năm, tư vấn cho việc ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật và nhân rộng kết quả nghiên cứu. Các Hội đồng đã hoạt động có hiệu quả, phát huy tốt vai trò, trách nhiệm của mình chẳng hạn như Hội An, Núi Thành, Điện Bàn, Hiệp Đức, Đại Lộc, …

Các nhiệm vụ KH&CN cấp huyện luôn bám sát định hướng nghiên cứu ứng dụng và được triển khai đa dạng trên nhiều lĩnh vực: y tế, văn hóa, giáo dục, nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản, bảo vệ môi trường ..., đáp ứng được phần lớn các nhu cầu thực tế cần giải quyết ở mỗi địa phương, góp phần bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa đặc trưng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, bảo tồn và phát triển các nghề truyền thống, phát triển nghề mới, vệ sinh môi trường dần dần được cải thiện.

Khoa học xã hội và nhân văn ở cấp huyện đã được tập trung nghiên cứu nhằm cung cấp các cơ sở khoa học phục vụ công tác quy hoạch, xây dựng các giải pháp phát triển kinh tế xã hội của địa phương thông qua đề tài “Xây dựng cơ chế, chính sách ưu đãi nhằm phát triển kinh tế - xã hội thành phố Hội An đến năm 2020”; Các nghiên cứu nhằm bảo tồn, phát huy các giá trị văn hoá đặc sắc: đề tài “Lễ hội rước cộ Bà Chợ Được trong đời sống người dân”, “Phục hồi di tích văn miếu Hà Lam ở Thăng Bình”, “ Nếp sống thị dân Hội An”, “Nghiên cứu, đề xuất lịch lễ hội hàng năm”, “Một số trò chơi dân gian ở Hội An”, “Một số nhân vật lịch sử Điện Bàn giai đoạn trước năm 1945”, “Bảo tồn và phát huy giá trị phi vật thể của tộc người Cơ tu huyện Đông Giang”. Một số kết quả đã được xuất bản thành sách như đề tài “Một số nghề truyền thống ở Hội An” hay “Nghiên cứu xây dựng, hoàn chỉnh chữ viết và biên soạn bộ sách công cụ tiếng Giẻ Triêngcủa huyện Phước Sơn gồm sách học, sách ngữ pháp, từ điển và sách bài tập tiếng Giẻ Triêng.

Hoạt động xây dựng các mô hình ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, đời sống đã được các huyện chú trọng đẩy mạnh trong thời gian qua. Một số dịa phương như huyện Nông Sơn đã triển khai ứng dụng các mô hình nuôi heo rừng lai, ếch thương phẩm, cá bống tượng v.v. đạt hiệu quả cao; huyện Núi Thành xây dựng mô hình trồng rau an toàn trong nhà lưới, rau câu chỉ vàng trong ao nuôi tôm, heo nái F1, cá ngựa, nhông sinh sản đạt kết quả tốt; huyện Tây Giang triển khai ứng dụng mô hình chuyên canh rau sạch và chuyển giao công nghệ sản xuất trồng nấm sò, nấm rơm, tre điền trúc lấy măng; huyện Hiệp Đức nghiên cứu ứng dụng các mô hình trồng nấm rơm, nuôi nhím, cá Diêu Hồng, trồng thử nghiệm cây mây nếp. Đặc biệt nuôi heo rừng lai là một mô hình mang lại hiệu quả kinh tế cao nên hiện nay UBND huyện Hiệp Đức có cơ chế hỗ trợ cho các hộ chăn nuôi tiếp tục và tham gia nhân rộng mô hình này trên địa bàn huyện. Vấn đề bảo tồn một số sinh vật bản địa cũng tiếp tục được quan tâm triển khai: Phục tráng giống nếp Hương Bầu tại huyện Thăng Bình; Phục hồi và phát triển giống tiêu Tiên Phước, Bảo tồn giống gà ta Tiên Phước.

Các huyện đã triển khai nhiều hoạt động nghiên cứu ứng dụng phù hợp, đáp ứng yêu cầu đặc thù của địa phương như: Các huyện núi cao Tây Giang, Nam Trà My đã triển khai các đề tài có liên quan đến dược liệu nhằm tạo lập cơ sở cho việc khai thác các ưu thế đặc thù của địa phương như: Xây dựng mô hình phát triển cây Ba Kích, Đảng Sâm, Sâm Nam, Đương Qui, … Tam Kỳ quan tâm đến vấn đề nông nghiệp ven đô, đã triển khai trồng thử nghiệm giống hoa lan Dendro cắt cành và Thử nghiệm quy trình ra lan nuôi cấy mô làm giống; Xây dựng mô hình trồng hoa Cúc, Lily chất lượng cao. Hội An tổ chức nghiên cứu các vấn đề có liên quan đến bảo tồn và phát triển di sản, phục vụ phát triển du lịch: Nếp sống thị dân Hội An; Khảo sát, đề xuất phương án phát huy không gian công cọng Đánh giá tiềm năng, đề xuất giải pháp khai thác bền vững Rau rừng và Lá uống tại Cù Lao Chàm, Điều tra hiện trạng và xây dựng giải pháp bảo vệ giống trai tai tượng và bàn mai tại Khu Bảo tồn biển Cù lao Chàm.

Trong những năm gần đây, các nhiệm vụ KH&CN cấp huyện được các địa phương triển khai thực hiện đã có sự gắn kết với Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới, góp phần hỗ trợ trong việc xây dựng một số tiêu chí trong bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới tại các địa phương. Hiệp Đức đã có các đề tài “Nghiên cứu chuyển đổi cơ cấu cây trồng trên đất ruộng không chủ động nước vụ Hè Thu trên địa bàn các xã nông thôn mới” và “Các giải pháp phát triển nông, lâm nghiệp bền vững trong tiến trình xây dựng nông thôn mới”, “Xây dựng mô hình nuôi ghép các loại thủy sản nước ngọt theo hướng sinh thái, tiết kiệm chi phí thức ăn tại các xã vùng cao” của huyện Nam Giang, “Thử nghiệm một số giống lúa chịu mặn trên địa bàn huyện Thăng Bình” của huyện Thăng Bình, “Xây dựng mô hình trồng và sơ chế cây mật nhân trên địa bàn huyện” ở huyện Đông Giang. Tây Giang có triển khai đề tài “Ứng dụng Công nghệ sinh học để sản xuất phân hữu cơ vi sinh chức năng tại chổ và bón cho cây lúa nước tại xã Anông, huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam” nhằm góp phần hỗ trợ sản xuất đẩy nhanh việc xây dựng nông thôn mới tại xã Anông.

Nhìn chung, các hoạt động ứng dụng các kết quả nghiên cứu khoa học vào sản xuất và đời sống ở hầu hết các huyện/thành phố đã phục vụ thiết thực cho sự phát triển kinh tế xã hội của địa phương, góp phần tạo lập cơ sở khoa học và thực tiễn cho các quyết định đầu tư, phát triển kinh tế của các cấp chính quyền, của chính người dân.  

Kinh phí SNKH của Tỉnh đầu tư cho KH&CN cấp huyện tăng dần qua các năm. Năm 2015 là 2,4 tỷ đồng, gấp gần 2,8 lần so với năm 2006. Các cấp ủy Đảng, Chính quyền địa phương đã dần đần nhận thức rõ hơn về vai trò, vị trí của KH&CN đối với phát triển kinh tế xã hội của địa phương, vì vậy ngoài kinh phí SNKH do Tỉnh phân bổ hàng năm, một số địa phương đã bổ sung kinh phí của huyện cho hoạt động KHCN.  

 

Bên cạnh đó, nhằm phát huy tối đa hiệu quả của nguồn kinh phí SNKH cấp tỉnh hỗ trợ cho địa phương, đến nay hầu hết các huyện đều giảm tỷ lệ chi cho hoạt động quản lý nhà nước để tăng thêm kinh phí cho việc ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật. Điển hình là thành phố Hội An sử dụng toàn bộ nguồn kinh phí SNKH cấp tỉnh hỗ trợ hàng năm để chi cho ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật; huyện Đại Lộc chỉ sử dụng khoảng 10% kinh phí được phân bổ hàng năm để chi cho công tác quản lý nhà nước (theo hướng dẫn của Tỉnh, được chi từ 30 -40% cho công tác quản lý). Một số địa phương đã bố trí lồng ghép nhiều nguồn kinh phí để đủ nguồn lực thực hiện được một số đề tài có nội dung và qui mô tương đối lớn tác động khá rõ nét đến sản xuất và đời sống.

 

 

Công tác Quản lý tiêu chuẩn đo lường chất lượng và sở hữu trí tuệ được quan tâm

 

Thường xuyên triển khai công tác tập huấn các văn bản quy phạm pháp luật cho các địa phương; đào tạo các cán bộ cấp huyện về kiểm tra hàng đóng gói sẵn theo định lượng và lớp đào tạo kiểm định viên cân thông dụng tại Trung tâm Kỹ thuật Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng II tại Đà Nẵng; tổ chức thanh, kiểm tra chất lượng sản phẩm hàng hóa: điện, điện tử, xăng dầu, cân chợ, cân đối chứng, đồ chơi trẻ em, mũ bảo hiểm ...

Hoạt động sở hữu trí tuệ trong thời gian qua đã được nhiều địa phương quan tâm, đã triển khai nghiên cứu một số giải pháp nhằm duy trì và phát triển các nghề truyền thống của địa phương như nước mắm Tam Thanh, dệt cói Tam Thăng, bún Hòa Thuận của thành phố Tam Kỳ; chiếu Bàn Thạch của Duy Xuyên; phở sắn Quế Sơn; lúa Ba Trăng giai đoạn 2 của huyện Đông Giang. Đồng thời các địa phương đã phới hợp với Sở KH&CN triển khai các hoạt động nâng cao nhận thức, phổ biến pháp luật, hướng dẫn các tổ chức và cá nhân, các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh, làng nghề quan tâm đến việc đăng ký và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ cho một số sản phẩm việc đăng ký nhãn hiệu tập thể các sản phẩm này nhằm gìn giữ, quảng bá thương hiệu và nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường.  

Những vấn đề cần quan tâm

 

Mặc dù đạt được những kết quả nhất định, nhưng cũng phải nhìn nhận rằng hoạt động KH&CN cấp huyện chưa thật sự thể hiện vai trò là cầu nối giữa nghiên cứu và ứng dụng khoa học công nghệ vào thực tiễn sản xuất, phục vụ phát triển kinh tế xã hội địa phương. Tại một số địa phương, hoạt động KH&CN cấp huyện còn mờ nhạt, thậm chí hoạt động này còn mang tính đối phó, chủ yếu là để sử dụng hết kinh phí đã phân bổ. Để từng bước khắc phục những hạn chế này, cần quan tâm đến một số vấn đề sau:

Về nhận thức: Các cấp ủy Đảng, chính quyền, hệ thống chính trị ở địa phương tuy đã nhận thức được tầm quan trọng, vị trí, vai trò của KH&CN trong phục vụ phát triển kinh tế xã hội nhưng chưa tổ chức triển khai thành các chương trình, kế hoạch cụ thể. Các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế chưa nhận thức đầy đủ vai trò KH&CN trong việc nâng cao chất lượng sản phẩm, xây dựng thương hiệu, phát triển sản xuất nên chưa đầu tư cho công tác nghiên cứu ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, tiếp nhận công nghệ mới.  

Cần tiếp tục nâng cao nhận thức của các cấp ủy đảng, chính quyền, nhất là người đứng đầu về vai trò, vị trí của KH&CN đối với phát triển kinh tế xã hội của địa phương; tiếp tục củng cố và phát huy hơn nữa vai trò của Hội đồng khoa học và công nghệ tại các địa phương. 

 

Về công tác tổ chức, cán bộ:

Trong những năm trước, cơ quan được giao chức năng quản lý nhà nước về KH&CN phải thay đổi nhiều lần làm mất tính ổn định và giảm hiệu quả hoạt động của công tác này. Đến nay, việc này đã được khắc phục. Tuy nhiên lãnh đạo phụ trách và cán bộ trực tiếp tham mưu quản lý hoạt động KH&CN cấp huyện chủ yếu là kiêm nhiệm và phụ trách nhiều lĩnh vực công tác khác.

Tại một số địa phương, do yêu cầu công tác nên phải thực hiện việc luân chuyển cán bộ. Tuy nhiên, chuyên viên phụ trách KH&CN khi thay đổi vị trí công tác chưa bàn giao đầy đủ hồ sơ, tài liệu và chưa hướng dẫn về chuyên môn cho cán bộ mới tiếp nhận. Do vậy, đã ảnh hưởng nhiều đến chất lượng công tác KHCN cấp huyện.

Trong thời gian đến, cần chú trọng hơn nữa công tác đào tạo, tập huấn chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ làm công tác quản lý KH&CN cấp huyện; từng bước hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về KH&CN cấp huyện; xây dựng cơ chế nhân rộng các kết quả nghiên cứu hiệu quả; huy động nhiều nguồn kinh phí cho hoạt động KH&CN.

Đội ngũ cán bộ làm công tác ứng dụng tiến bộ kỹ thuật ở cấp huyện còn mỏng và yếu về kỹ năng tổ chức triển khai nghiên cứu, có tâm lý e ngại khi đăng ký thực hiện đề tài. Theo phản ảnh của các địa phương, hằng năm, có rất ít cán bộ tại địa phương đề xuất/đăng ký thực hiện đề tài. Một số phiếu đăng ký không đảm bảo chất lượng. Công tác xác định nhiệm vụ vì thế không đảm bảo chất lượng và tiến độ.

Để khắc phục vấn đề này, cần tăng cường hợp tác với các cơ quan bên ngoài huyện như: các cơ quan chuyên môn của Tỉnh, các viện nghiên cứu, các trường đại học, … Thông qua quá trình hợp tác, nguồn nhân lực tại chỗ có cơ hội được cùng tham gia lao động khoa học và được trực tiếp đào tạo, chuyển giao công nghệ, chuyển giao phương pháp, kỹ năng tổ chức nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật

Công tác xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch KH&CN, công tác thông tin, báo cáo, thảo luận kế hoạch KH&CN hàng năm còn chậm, chưa theo đúng quy trình hướng dẫn. Có thể nói, vẫn còn một số địa phương còn lúng túng trong khâu xây dựng và triển khai kế hoạch, trong quản lý và sử dụng kinh phí sự nghiệp khoa học cấp huyện, trong việc phối hợp thanh, kiểm tra về tiêu chuẩn - đo lường - chất lượng, sở hữu trí tuệ, ...  

Đẩy mạnh công tác thông tin KH&CN đến tận cơ sở bằng nhiều kênh, nhiều hình thức phù hợp với trình độ dân trí và tập quán sinh hoạt và sản xuất của người dân. Triển khai đồng bộ và hiệu quả các chức năng quản lý nhà nước về tiêu chuẩn đo lường chất lượng, sở hữu trí tuệ, an toàn bức xạ hạt nhân, thanh tra, kiểm tra đến với cấp huyện. 

 

Tăng cường tổ chức các lớp tập huấn nghiệp vụ quản lý KH&CN, các buổi tọa đàm, hội thảo, trao đổi kinh nghiệm quản lý. Thường xuyên tập huấn, hướng dẫn kỹ năng đề xuất đề tài/dự án, viết thuyết minh đề cương đề tài/dự án cho cán bộ đang trực tiếp làm công tác ứng dụng, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật cấp huyện.

Xây dựng cơ chế để ngân sách cấp huyện đầu tư trực tiếp cho hoạt động nghiên cứu và ứng dụng. Khai thác, phát huy các nguồn lực xã hội hóa, đầu tư cho KH&CN cấp huyện. Trong đó nguồn ngân sách sự nghiệp khoa học đóng vai trò kích cầu, dẫn dắt để huy động các nguồn đối ứng khác từ đối tác qua vật tư, thiết bị, nguyên liệu, giống, công lao động ...

Tổ chức hoặc phối hợp với các cơ quan chuyên môn của TW tổ chức các hội nghị, tập huấn đào tạo kỹ năng nghiệp vụ về ươm tạo, phát triển doanh nghiệp KH&CN. Đẩy mạnh hoạt động truyền thông, phổ biến thông tin hỗ trợ doanh nghiệp KH&CN./.

 

 

 

 

 

[Trở về]
 
Tin mới hơn
Ban chỉ đạo các Chương trình mục tiêu quốc gia tỉnh Quảng Nam thành lập các Tiểu ban để thực hiện Chương trình OCOP
Một số kết quả ban đầu đề tài KH&CN cấp tỉnh “Nghiên cứu, phát triển và chế biến sản phẩm cây chè dây (Ra Zéh) trên địa bàn xã Tư, huyện Đông Giang”
Huyện Bắc Trà My phê duyệt kế hoạch hoạt động khoa học và công nghệ năm 2018
UBND huyện Thăng Bình phê duyệt kinh phí hoạt động khoa học và công nghệ năm 2018.
UBND huyện Duy Xuyên phê duyệt Kế hoạch hoạt động KH&CN năm 2018.
UBND huyện Núi thành phê duyệt danh mục KH&CN cấp huyện năm 2018
Thông tư 105/2017/TT-BTC ngày 05/10/2017 của Bộ Tài chính về việc hướng dẫn cơ chế quản lý tài chính thực hiện Quyết định 2085/QĐ-TTg ngày 31/10/2016 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chính sách đặc thù hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2017-2020
Xây dựng mô hình sinh thái nông lâm kết hợp tại xã miền núi Tam Trà, huyện Núi Thành
Danh mục nhiệm vụ KH&CN huyện Núi Thành năm 2017
Họp Hội đồng xét duyệt đề tài “Nghiên cứu, phát triển và chế biến sản phẩm cây chè dây (Ra zesh) trên địa bàn xã Tư, huyện Đông Giang”
Kết quả ban đầu của đề tài "Nghiên cứu trồng thử nghiệm Lan Mokara"
Hội nghị phát triển Thị trường Khoa học và Công nghệ năm 2016
Hội thảo Triển lãm thương mại hóa công nghệ
HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP HUYỆN – MỘT SỐ KẾT QUẢ VÀ NHIỆM VỤ TRỌNG TÂM
Tiên Phước: thông báo đăng ký, đề xuất đề tài thực hiện nhiệm vụ KH&CN năm 2017
Đầu Trước Sau Cuối
Tin cũ hơn
Tổng kết hoạt động khoa học và công nghệ cấp huyện năm 2014, kế hoạch 2015.
Trang 1 của 1 Đầu Trước Sau Cuối