Skip Ribbon Commands
Skip to main content
SKHCN > chitiettin
 

 Chi tiết tin

 
Kết quả phân lập tuyển chọn và ứng dụng nấm đối kháng TRICHODERMA tại Quảng Nam
Đăng bởi BV .Vào ngày 13/02/2017. Đã xem 1096 lượt
Trung tâm Ứng dụng và Thông tin KH-CN thuộc Sở Khoa học & Công nghệ đã tiến hành phân lập, tuyển chọn được một số loài nấm Trichoderma có khả năng đối kháng mạnh với các loại nấm bệnh gây hại cây trồng và xây dựng mô hình thử nghiệm đã đem lại đạt kết quả tốt thể hiện qua các chỉ tiêu: Sinh trưởng, phát triển tốt, ít nhiễm sâu bệnh, năng suất cao, chi phí đầu tư giảm.

Trichoderma là nấm đối kháng dễ dàng phát triển trên tất cả các loại đất tự nhiên, đất nông nghiệp và trong một số môi trường sống khác. Trichoderma là loại nấm mốc có phổ đối kháng rộng đối với các loại nấm gây bệnh hại cây trồng và có khả năng kích thích sự phát triển của rễ cây. Việc khai thác tiềm năng của Trichoderma dưới dạng chế phẩm sinh học như một tác nhân sinh học phòng trừ nhiều bệnh hại cây trồng, giúp cho cây sinh trưởng và phát triển tốt hơn nhằm tạo ra sản phẩm nông nghiệp không dư lượng thuốc hóa học, phòng trừ bệnh hại để bảo vệ sức khỏe cộng đồng, cân bằng sinh thái môi trường và hướng đến một nền nông nghiệp bền vững đã và đang được các nước trên thế giới quan tâm.

          Chế phẩm Trichoderma tại thị trường Quảng Nam có rất nhiều loại với tên gọi khác nhau, được nhiều hộ dân biết đến và đang ứng dụng rất phổ biến. Tuy nhiên, các loại chế phẩm này được nhập từ nơi khác về, giá thành cao và người dân chủ yếu sử dụng để sản xuất phân hữu cơ vi sinh là chính, chủng nấm được phân lập ở nơi khác có điều kiện tự nhiên khác nơi ứng dụng nên không phát huy được hết đặc tính sinh học, đối kháng bệnh.

          Để đảm bảo tính hiệu quả của Trichoderma và phục vụ phát triển nông nghiệp bền vững, Trung tâm Ứng dụng và Thông tin KH-CN xây dựng và thực hiện đề tài: “Ứng dụng công nghệ sinh học để sản xuất chế phẩm Trichoderma, phân bón qua lá thủy phân từ trùn quế phục vụ cho cây trồng tại Quảng Nam”, đề tài đã tiến hành phân lập, tuyển chọn được một số loài nấm Trichoderma có khả năng đối kháng mạnh với các loại nấm bệnh gây hại cây trồng và xây dựng mô hình thử nghiệm với kết quả cụ thể như sau:

1.     Địa điểm thu mẫu:

Tiến hành thu mẫu tại 4 huyện/thị xã: Duy Xuyên, Phú Ninh, Tiên Phước và Điện Bàn với số lượng 85 mẫu.

          Dựa vào kết quả định danh, đánh giá khả năng sinh tổng hợp enzyme và đối kháng với một số nấm bệnh gây hại cây trồng đã tuyển chọn được 4 loài nấm Trichoderma tốt nhất và phù hợp để sản xuất chế phẩm Trichoderma ứng dụng cho cây trồng tại địa bàn tỉnh Quảng Nam, gồm:

DX08-04.2: Trichoderma asperellum (Nam Phước 8 - Duy Xuyên)

TP01-09.1: Trichoderma viride (Tiên Hiệp 1 - Tiên Phước)

DB11-02.1: Trichoderma viride (Điện Quang - Điện Bàn)

PN 16-05.3: Trichoderma virens (Tam Thành - Phú Ninh)

2.     Xây dựng mô hình thử nghiệm:

Tiến hành khảo nghiệm trên hai đối tượng cây trồng là rau cải xanh và cây khổ qua tại xã Điện Minh, thị xã Điện Bàn, đã sản xuất thử nghiệm thành công 100 kg chế phẩm Trichoderma đạt mật độ 108CFU/gam, kết quả thu được:

          - Diện tích khảo nghiệm: 400 m2 (mỗi mô hình 200 m2)

- Hộ tham gia: Ông Bùi Văn Lên

- Loại cây trồng: Cây khổ qua và cây cải bẹ xanh.

Phương pháp thực hiện:

 

          - Mô hình thực nghiệm: Bố trí thành 02 lô:

            + Lô thực nghiệm: Theo quy trình canh tác có bổ sung chế phẩm Trichoderma

     + Lô đối chứng: theo quy trình canh tác của nông dân (không bổ sung chế phẩm Trichoderma)

   - Thời vụ: Hè - Thu 2015 và vụ Đông - Xuân 2015 - 2016

 - Đối với cây khổ qua:

 + Thực hiện vụ Hè - Thu

Bảng 01: Chỉ tiêu sinh trưởng phát triển, sâu bệnh hại, năng suất cây khổ qua

Chỉ tiêu theo dõi

ĐVT

Lô thực nghiệm

Lô đối chứng

Ghi chú

Thời gian bắt đầu ra hoa

Ngày sau gieo

26

28

 

Thời gian bắt đầu ra nụ trái

Ngày sau gieo

32

34

 

Thời gian bắt đầu thu hoạch

Ngày sau gieo

40

43

 

Màu sắc lá

 

Lá vàng xanh

Lá xanh đậm

 

Chết cây con do bệnh lỡ cổ rễ

%

5

50

 

Bệnh đốm lá

Điểm

3

5

 

Thời gian sinh trưởng

ngày

75

70

 

Trọng lượng trái

gam

245

228

 

Năng suất thực thu

kg

210 kg/100m2

(21 tấn/ha)

90kg/100m2

(9 tấn/ha)

chết 50%

Nhận xét: Vụ Hè - Thu mô hình thực nghiệm sử dụng chế phẩm Trichoderma có thời gian ra hoa, đậu quả sớm hơn so với đối chứng và có thời gian thu hoạch kéo dài hơn. Về bệnh hại ở mô hình thực nghiệm, tỷ lệ chết cây con cũng như bệnh đốm lá nhẹ hơn so với đối chứng. Trọng lượng trái cũng như năng suất ở mô hình đều cao hơn so với lô đối chứng.

+ Thực hiện vụ Đông - Xuân

Bảng 02: Chỉ tiêu sinh trưởng phát triển, sâu bệnh hại, năng suất cây khổ qua

Chỉ tiêu theo dõi

ĐVT

Lô thực nghiệm

Lô đối chứng

Ghi chú

Thời gian bắt đầu ra hoa

Ngày sau gieo

30

30

 

Thời gian bắt đầu ra nụ trái

Ngày sau gieo

35

35

 

Thời gian bắt đầu thu hoạch

Ngày sau gieo

45

47

 

Màu sắc lá

 

Lá vàng xanh

Lá xanh đậm

 

Chết cây con do bệnh lỡ cổ rễ

%

0 %

10%

 

Bệnh đốm lá

Điểm

1

3

 

Thời gian sinh trưởng

ngày

75 ngày

70 ngày

 

Trọng lượng trái

gam

267

239

 

Năng suất thực thu

kg

234 kg/100m2

(23,4tấn/ha)

186kg/100m2

(18,6 tấn/ha)

 

Nhận xét: Vụ Đông - Xuân mô hình thực nghiệm sử dụng chế phẩm Trichoderma có thời gian ra hoa, đậu quả tương đương với mô hình đối chứng, thời gian bắt đầu thu hoạch sớm hơn 2 ngày so với đối chứng và thời gian thu hoạch kéo dài hơn. Về bệnh hại ở mô hình thực nghiệm tỷ lệ chết cây con cũng như bệnh đốm lá nhẹ hơn so với đối chứng. Trọng lượng trung bình ở mô hình 267gam/trái cao hơn 28gam/trái so với đối chứng. Năng suất thực thu ở mô hình 23,4 tấn/ha cao hơn 4,8 tấn/ha so với đối chứng

- Đối với cây cải bẹ xanh:

+ Thực hiện vụ Hè - Thu

Bảng 03: Chỉ tiêu sinh trưởng phát triển, sâu bệnh hại, năng suất cây cải bẹ xanh

Chỉ tiêu theo dõi

ĐVT

Lô thực nghiệm

Lô đối chứng

Chiều cao cây 10 ngày sau gieo

cm

6,2

5,4

Chiều cao cây 20 ngày sau gieo

cm

13,8

12,5

Chiều cao cây 30 ngày sau gieo

cm

25,9

22,5

Bệnh lỡ cổ rễ

Điểm

1

3

Bệnh đốm lá

Điểm

1

3

Bệnh thán thư

Điểm

1

1

Sâu tơ

Điểm

1

3

Bọ nhảy

Điểm

3

5

Thời gian sinh trưởng

ngày

30

30

Trọng lượng cây

gam

42,3

37,2

Mật độ

cây/ha

550.000

550.000

Năng suất lý thuyết

tấn/ha

23,2

20,4

Năng suất thực thu

kg

210 kg/100m2

(21,5 tấn/ha)

187 kg/100m2

(18,7 tấn/ha)

Nhận xét: Vụ Hè - Thu chỉ tiêu sinh trưởng, phát triển, sâu bệnh hại, năng suất cây cải bẹ xanh cho thấy về chiều cao cây trung bình ở mô hình cao hơn so với đối chứng, trọng lượng trung bình ở mô hình thực nghiệm là 42,3gam/cây cao hơn 5,1gam/cây so với mô hình đối chứng, năng suất suất thực thu ở mô hình thực nghiệm đều cao hơn so với đối chứng. Đặc biệt các đối tượng sâu bệnh gây hại ở mô hình đều thấp hơn so với đối chứng. Năng suất lý thuyết ở mô hình thực nghiệm cao hơn 2,8 tấn/ha, năng suất thực thu ở mô hình thực nghiệm cao hơn 2,8 tấn/ha

+ Thực hiện vụ Đông - Xuân

Bảng 04: Chỉ tiêu sinh trưởng, phát triển, sâu bệnh hại, năng suất cây cải bẹ xanh

 

Chỉ tiêu theo dõi

ĐVT

Lô thực nghiệm

Lô đối chứng

Chiều cao cây 10 ngày sau gieo

cm

6,7

5,9

Chiều cao cây 20 ngày sau gieo

cm

15

14,4

Chiều cao cây 30 ngày sau gieo

cm

29,8

27,7

Bệnh lỡ cổ rễ

Điểm

1

3

Bệnh đốm lá

Điểm

1

3

Thời gian sinh trưởng

ngày

28

28

Trọng lượng cây

gam

48,1

45,5

Mật độ

cây/ha

500.000

500.000

Năng suất lý thuyết

tấn/ha

24

22,7

Năng suất thực thu

 

235 kg/100m2

(23,5 tấn/ha)

202kg/100m2

(20,2 tấn/ha)

Nhận xét: Sản xuất cải bẹ xanh ở vụ Đông - Xuân chỉ xuất hiện 2 đối tượng bệnh là bệnh lỡ cổ rễ và bệnh đốm lá, ở mô hình thực nghiệm bệnh xuất hiện ít hơn so với đối chứng; chỉ tiêu sinh trưởng phát triển, sâu bệnh hại, năng suất cây cải bẹ xanh cho thấy về chiều cao cây trung bình ở mô hình cao hơn so với đối chứng, trọng lượng trung bình ở mô hình thực nghiệm là 48,1gam/cây cao hơn 2,6gam/cây so với mô hình đối chứng, năng suất suất thực thu ở mô hình thực nghiệm đều cao hơn so với đối chứng. Năng suất lý thuyết và năng suất thực thu ở mô hình thực nghiệm đều cao hơn so với đối chứng.

          Kết luận:

- Lần đầu tiên tại Quảng Nam đề tài đã phân lập và tuyển chọn một số chủng Trichoderma từ nguồn đất trong tỉnh để sản xuất được chế phẩm Trichoderma tại Quảng Nam, đồng thời đánh giá được tính đối kháng của các chủng Trichoderma đã chọn với một số loại nấm đất gây hại và đã ứng dụng thành công trên hai đối tượng cây trồng là rau cải xanh và khổ qua. Thời gian đến cơ quan chủ trì sẽ tiếp tục tổ chức sản xuất chế phẩm Trichoderma tại Quảng Nam và tiến hành nhân rộng trên các loại cây trồng khác tại các địa phương trong tỉnh.

- Kết quả 2 vụ sản xuất thực nghiệm mô hình sử dụng chế phẩm trichoderma để ủ phân chuồng và sử dụng trực tiếp trên cây trồng cho 2 đối tượng cây khổ qua và cải bẹ xanh đã khẳng định hiệu quả đem lại đạt kết quả tốt thể hiện qua các chỉ tiêu: Sinh trưởng, phát triển tốt, ít nhiễm sâu bệnh, năng suất cao, chi phí đầu tư giảm. Đặc biệt chất lượng sản phẩm được cải thiện đáng kể; đây là mong muốn nhất của người sản xuất và người tiêu thụ sản phẩm hiện nay.

                                                                                                 Mai Hồng

[Trở về]
 
Tin mới hơn
Hội thảo “ Đánh giá hiệu quả mô hình trồng chuối mốc nuôi cấy mô tại xã Trà Tân, huyện Bắc Trà My ”
Thực trạng và giải pháp tái sử dụng bã thải nấm rơm trên địa bàn huyện Thăng Bình
Hiệu quả của việc ứng dụng chế phẩm vi sinh vật cải tạo đất và nấm rễ cộng sinh Mycorrhiza trên cây đậu xanh
Kết quả mô hình trồng rau an toàn tại huyện Phú Ninh
Tập huấn hướng dẫn kỹ thuật xử lý môi trường trong và sau nuôi trồng nấm tại xã Bình Trị, huyện Thăng Bình
Trồng bưởi trên đất bạc màu của huyện Phú Ninh
Triển khai phương án hỗ trợ ứng dụng tiến bộ KH&CN để sản xuất phân hữu cơ vi sinh chức năng trên địa bàn tỉnh Quảng Nam năm 2018
Hội thảo “Xây dựng mô hình trồng rau an toàn tại xã Tam An, huyện Phú Ninh”
Triển vọng từ cây ổi lê Đài Loan đến phát triển kinh tế hộ gia đình
Chế phẩm sinh học chitosan giúp kéo dài thời gian bảo quản trái cây
Quy trình kỹ thuật sản xuất phân hữu cơ vi sinh chức năng từ chế phẩm vi sinh FBP
Hiệu quả của việc ứng dụng phân hữu cơ vi sinh, chế phẩm trichoderma cho cây trồng
Xây dựng mô hình trồng thâm canh cây Ổi Lê Đài Loan (Psidium guajava) tại xã Tam Thái và xã Tam Đàn, huyện Phú Ninh
Xây dựng mô hình trồng chuối mốc bằng giống nuôi cấy mô tại xã kết nghĩa Trà Tân, huyện Bắc Trà My
Hiệu quả từ việc ứng dụng phân hữu cơ vi sinh chức năng và chế phẩm Trichoderma vào trồng, chăm sóc cây Sâm Ngọc Linh
Sở Khoa học và Công nghệ và Hội Nông dân tỉnh Quảng Nam triển khai phương án hỗ trợ ứng dụng tiến bộ KH&CN để sản xuất phân hữu cơ vi sinh chức năng tại 30 xã trong năm 2017
Hội thảo xây dựng mô hình trồng thử nghiệm cây Quinoa tại tỉnh Quảng Nam
Hội thảo xây dựng mô hình chăn nuôi “Gà tre Đèo Le” tại huyện Quế Sơn theo hướng bền vững
Hiệu quả từ cơ quan sự nghiệp Khoa học và Công nghệ
Hội chợ Triển lãm Quốc tế lần thứ 5 về công nghệ thí nghiệm, phân tích, chẩn đoán và công nghệ sinh học (Analytica Viet Nam 2017)
Bộ Trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ thị sát vườn sâm Ngọc Linh gốc Tắc Ngo
Sản phẩm của ngành khoa học và công nghệ tại triển lãm thành tựu kinh tế-xã hội 20 năm tái lập tỉnh Quảng Nam
Các công nghệ đã tiếp nhận và làm chủ của Trung tâm Ứng dụng và Thông tin KH-CN Quảng Nam sau 20 năm tái lập Tỉnh (1997-2017)
Ứng dụng chế phẩm vi sinh FBP để sản xuất phân hữu cơ vi sinh chức năng phục vụ sản xuất nông nghiệp bền vững
Hội nghị phổ biến nội dung Chiến lược phát triển KH&CN tỉnh Quảng Nam đến năm 2025, tầm nhìn 2030 và các Chương trình, chính sách phát triển của Bộ Khoa học và Công nghệ
Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Quảng Nam gặp mặt trao tặng Huy hiệu "Vì sự nghiệp xây dựng và phát triển tỉnh Quảng Nam"
Đầu Trước Sau Cuối
Tin cũ hơn
Hội thảo xây dựng thương hiệu rau an toàn Bãi Bồi tại xã Điện Minh,thị xã Điện Bàn
Trung tâm Ứng dụng và Thông tin KH-CN Quảng Nam tham gia Hội chợ - Triển lãm hàng nông sản và sản phẩm đặc trưng tại huyện Nam Trà My
Tập huấn hướng dẫn sử dụng chế phẩm Trichoderma, phân bón qua lá thủy phân từ trùn quế trên các loại cây trồng tại thị xã Điện Bàn và thành phố Hội An
Hội nghị tổng kết hoạt động Trung tâm Ứng dụng và Thông tin KH-CN năm 2015
100 cánh đồng tiền tỷ của nông dân được vinh danh
Nghiệm thu đề tài “Ứng dụng tiến bộ kỹ thuật để xây dựng mô hình trồng mít cao sản có năng suất cao, chất lượng tốt tại Đông Giang, tỉnh Quảng Nam”
Xây dựng mô hình trồng rau an toàn bằng phân hữu cơ vi sinh chức năng, tại huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam
Tin thị trường khoa học công nghệ
Nông dân chế tạo máy đào khoai tây
Xây hầm biogas cho ba lợi ích
Lần đầu tiên Bộ Khoa học tổ chức thi sáng tạo kỹ thuật
Chế tạo thiết bị y sinh - từ ý tưởng đến hiện thực
Người Việt đoạt giải Nhất sáng tạo kỹ thuật Doosan
Máy cấy lúa Nhật Bản lần đầu tiên được sử dụng tại Bến Tre
Trang 1 của 1 Đầu Trước Sau Cuối