Skip Ribbon Commands
Skip to main content
SKHCN > chitiettin
 

 Chi tiết tin

 
KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ QUẢNG NAM __Thành tựu và định hướng phát triển
Đăng bởi Phạm Viết Tích _ GĐ Sở KH&CN Quảng Nam .Vào ngày 27/03/2017. Đã xem 1804 lượt
Hai mươi năm qua, ngành khoa học và công nghệ (KH&CN) Quảng Nam có nhiều đổi mới, đạt được những kết quả đáng khích lệ. Hoạt động KH&CN được triển khai đồng bộ trên tất cả các lĩnh vực, cơ chế quản lý được đổi mới, tiềm lực KH&CN của tỉnh từng bước phát triển, từng bước khẳng định vai trò và vị thế của KH&CN trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.

 1. Vài nét về thành tựu KH&CN tỉnh Quảng Nam

Một là, Công tác quản lý nhà nước về KH&CN được đổi mới , từng bước đáp ứng yêu cầu quản lý KH&CN địa phương. Tích cực, chủ động tham mưu ban hành cơ chế chính sách trên cơ sở cụ thể hóa chủ trương chính sách của trung ương, tỉnh và phù hợp thực tiễn; qua đó đã tạo môi trường và điều kiện để phát huy tiềm lực KH&CN, nâng cao năng lực, hiệu quả quản lý nhà nước, hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực có liên quan tới KH&CN, góp phần đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa tỉnh nhà. Chiến lược phát triển KH&CN của tỉnh ban hành đã xác định được hướng phát triển KH&CN phù hợp theo từng giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Tổ chức hệ thống quản lý Nhà nước về KH&CN triển khai đến cấp huyện, đáp ứng nhu cầu ứng dụng tiến bộ kỹ thuật phục vụ sản xuất và đời sống, phát triển kinh tế - xã hội ở cơ sở. Tiềm lực KH&CN từng bước được nâng lên; năng lực của các tổ chức KH&CN bước đầu được đầu tư, nâng cấp; đội ngũ cán bộ  KH&CN tăng về số lượng, nâng cao một bước về chất lượng, có những đóng góp đáng kể trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội và khoa học công nghệ của tỉnh. Tổng ngân sách chi cho KH&CN tỉnh trong 20 năm gần 235,741 tỷ đồng; năm 2016 gấp 17,5  so với năm 1997. Bước đầu đa dạng hoá nguồn vốn cho nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ ở các thành phần kinh tế, địa phương. Năng lực và hiệu lực quản lý nhà nước trên các lĩnh vực KH&CN có bước chuyển biến tích cực, dần đi vào chiều sâu.

Hai là, Hoạt động nghiên cứu khoa học được chuyển biến theo hướng nâng cao chất lượng, bám sát thực tế sản xuất – đời sống, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội. Đã triển khai thực hiện 26 nhiệm vụ KH&CN cấp quốc gia, 250 nhiệm vụ KH&CN cấp tỉnh, 190 đề tài cấp huyện và 03 nhiệm vụ hợp tác với Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam.

Các nghiên cứu đã cung cấp các luận cứ khoa học tự nhiên và xã hội cho hoạch định phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của tỉnh; tiêu biểu là các kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở để xây dựng các hồ sơ khoa học của di sản văn hóa thế giới Hội An, Mỹ Sơn, khu dự trữ sinh quyển thế giới Cù Lao Chàm; các giải pháp thu hút vốn đầu tư, đánh giá trình độ công nghệ, phát triển lao động  một số nhóm ngành công nghiệp chủ lực, .... Các nhiệm vụ KH&CN trên các lĩnh vực y tế, giáo dục, xã hội, nhân văn, tự nhiên, công nghệ, công nghệ thông tin đang được ứng dụng và mang lại hiệu quả rõ rệt. Trong số đó phải kể đến các nghiên cứu bảo tồn, phát huy các giá trị văn hoá truyền thống; nghiên cứu truyền thống mở cõi, hội nhập và yêu nước của con người xứ Quảng; xây dựng bộ cơ sở dữ liệu về tài nguyên nước ven biển, nguồn lợi thuỷ sinh nước ngọt hồ Phú Ninh, hệ sinh thái đất ngập nước, năng lượng gió khu vực Cù Lao Chàm, ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý nhà nước; nghiên cứu văn hóa truyền thống làng Việt xứ Quảng, nghiên cứu các danh nhân đất Quảng

Các nhiệm vụ KH&CN phục vụ nông nghiệp, nông dân, nông thôn và gắn với chương trình nông thôn mới được tập trung triển khai. Ứng dụng nhiều tiến bộ KH&CN trong bảo tồn, phục tráng các nguồn gen quý hiếm, có giá trị về kinh tế (sâm Ngọc Linh, Tiêu Tiên phước, loòn boon, lúa rẫy, heo cỏ, gà tre, chim yến....), du nhập một số giống cây, con phù hợp với điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng, tập quán canh tác tại Quảng Nam (mít ruột đỏ, cá rô phi đơn tính, cá ngựa, rong nho,...), các mô hình sản xuất an toàn, hiệu quả phù hợp với từng vùng sinh thái; các phương thức khai thác thủy sản tiên tiến (ứng dụng điện mặt trời và đèn LED trên tàu lưới vây, nghề lưới rê hỗn hợp khai thác vùng biển khơi, nghề câu vàng khai thác mực tầng đáy,...). Tiếp nhận thành công và ứng dụng có hiệu quả công nghệ nuôi cấy mô, sản xuất chế phẩm vi sinh vật phục vụ nông nghiệp xanh, sạch, xử lý môi trường,... Mô hình sản xuất phân hữu cơ vi sinh chức năng được triển khai trên tất cả các xã xây dựng nông thôn mới toàn tỉnh.

Trong lĩnh vực khoa học kỹ thuật và công nghệ, các đề tài tập trung ứng dụng công nghệ bảo vệ môi trường như công nghệ biogas để xử lý chất thải, làm chất đốt đồng thời bảo vệ môi trường; ứng dụng công nghệ lò đốt ga để sản xuất gốm mỹ nghệ, lò nung liên tục kiểu đứng để sản xuất ngói; sản xuất các loại vật liệu xây dựng thân hiện môi trường; công nghệ lọc nước bằng vật liệu lọc di động cho hệ thống cấp nước sinh hoạt; ứng dụng công nghệ GIS trong công tác quản lý và phát triển các ngành; ...

 

Hình. Giới thiệu một số kết quả nghiên cứu thuộc lĩnh vực công nghệ sinh học tại triển lãm

thành tựu 20 năm thành tự kinh tế - xã hội tỉnh Quảng Nam

 

Ba là, Kết quả nổi bật của ngành KH&CN Quảng Nam trong 20 năm qua là hỗ trợ doanh nghiệp và phát triển các sản phẩm trọng điểm có lợi thế so sánh của địa phương.

Trong thời gian qua, ngành KH&CN đã triển khai nhiều nhiệm vụ hỗ trợ khôi phục, phát triển sản phẩm có lợi thế so sánh của tỉnh như ba kích, sa nhân, chè dây, nấm dược liệu, chim yến Cù Lao Chàm, ... đặc biệt là sâm Ngọc Linh. Các nhiệm vụ KH&CN tham gia đầy đủ tất cả các khâu theo chuỗi giá trị, từ khâu chọn giống, sản xuất đến khai thác, bảo quản, chế biến các sản phẩm giá trị gia tăng và xây dựng thương hiệu, quảng bá sản phẩm. Đã làm chủ công nghệ nuôi cấy mô tế bào nhằm tạo nguồn giống lớn, ổn định về chất lượng cây giống. Hỗ trợ sản xuất thành công các mặt hàng trà túi lọc, nước uống tăng lực từ sâm Ngọc Linh và đang thử nghiệm chế biến các sản phẩm từ chè dây, yến sào Cù Lao Chàm theo phương thức truyền thống, ....

Với chủ trương “Đưa KH&CN gần hơn với doanh nghiệp”, ngành KH&CN đã đồng hành, hỗ trợ các doanh nghiệp xây dng, áp dụng hthng qun lý cht lưng tiên tiến, bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp, áp dụng các công cnâng cao năng sut cht lưng, ci tiến, hoàn thin, đi mi, chuyn giao công ngh, …; htrphát trin các sn phm chlc ca tnh như cây dưc liu, cao su, cơ khí ô tô,... Ngay từ năm 2006, Chương trình KH&CN về phát triển công nghiệp - dịch vụ và hỗ trợ doanh nghiệp được xác định là một trong 9 chương trình KH&CN trọng điểm của tỉnh.

Htrcác doanh nghiệp nghiên cứu triển khai, đổi mới công nghệ, tham gia các chương trình KH&CN cấp quốc gia, tham gia các Chợ Thiết bị và Công nghệ, diễn đàn cung cầu công nghệ; tham gia chương trình hỗ trợ khởi nghiệp đổi mới sáng tạo trên địa bàn tỉnh.

Triển khai Dự án KH&CNcấp quốc gia Nghiên cứu thiết kế, chế tạo xe khách giường nằm cao cấp mang thương hiệu Việt Nam” do Công ty cổ phần ô tô Trường Hải chủ trì. Kết quả thực hiện dự án đã góp phần tăng tỉ lệ nội địa hóa trong chế tạo xe ô tô bus từ 45% lên 59%, giảm giá thành sản phẩm, sản lượng tăng 1,5 lần. Và 02 nhiệm vụ KH&CN cấp quốc gia do công ty chủ trì đang chuẩn bị ký hợp đồng thực hiện.

Hỗ trợ doanh nghiệp xây dựng thương hiệu, nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm hàng hóa. Việc quế Trà My, sâm Ngọc Linh được cấp Giấy chứng nhận đăng ký chỉ dẫn địa lý nhiều sản phẩm đặc trưng khác đã và đang triển khai xây dựng nhãn hiệu tập thể, nhãn hiệu chứng nhận đã góp phần làm cho các sản phẩm được nhận biết rộng rãi, khẳng định được thương hiệu, tăng giá trị và khả năng cạnh tranh trên thị trường, tăng cường giao thương trên thị trường nội địa và quốc tế. Đến nay, toàn tỉnh có hơn 500 nhãn hiệu thông thường, 30 nhãn hiệu tập thể và 02 chỉ dẫn địa lý đã được xác lập quyền.

Hình. Trưng bày một số sản phẩm và Cup vàng giải thưởng chất lượng Quốc gia của các Doanh nghiệp Quảng Nam

 

Triển khai thực hiện Đề án nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm hàng hóa doanh nghiệp vừa và nhỏ tỉnh Quảng Nam, giai đoạn 2014 - 2020.  Sau 3 năm triển khai Đề án, đã tổ chức 27 khóa tập huấn về năng suất, chất lượng với khoảng 720 lượt người tham gia, chủ yếu là cán bộ doanh nghiệp; hỗ trợ 19 lượt doanh nghiệp với tổng kinh phí 2.390 triệu đồng đổi mới công nghệ, áp dụng hệ thống quản lý chất lượng, công cụ cải tiến tiên tiến. Đánh giá sơ bộ cho thấyhiệu quả thiết thực về năng suất, chất lượng, hiệu quả quản lý, quảng bá thương hiệu, nâng cao năng lực cạnh tranh ở các doanh nghiệp tham gia Đề án (năng suất lao động tăng từ 1,6 lần đến 9 lần, doanh thu tăng từ 25,43% đến 64%, giảm thiểu ô nhiễm môi trường, …).

           2. Định hướng và giải pháp phát triển trong thời gian đến

    Mục tiêu phấn đấu đến năm 2020, Quảng Nam trở thành tỉnh khá của cả nước đang đặt ra những yêu cầu to lớn cho KH&CN. Chiến lược phát triển KH&CN tỉnh Quảng Nam đến năm 2025, tầm nhìn 2030 được Hội đồng nhân dân tỉnh thông qua đã xác định định hướng tập trung nghiên cứu ứng dụng, hướng đến sản xuất hàng hóa, nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, coi doanh nghiệp và các đơn vị dịch vụ công là trung tâm của đổi mới ứng dụng và chuyển giao công nghệ; chúng ta tin tưởng về một sự chuyển biến mới, khoa học và công nghệ sẽ ngày càng có những đóng góp thiết thực hơn cho sự phát triển của tỉnh .

Chiến lược đã xác định 5 mục tiêu chủ yếu mà KH&CN cần đạt được đến năm 2025:

(1)Phấn đấu đạt các chỉ tiêu về tỷ lệ đóng góp của KH&CN vào tăng trưởng kinh tế thông qua yếu tố năng suất tổng hợp (TFP) trên 35%, tốc độ đổi mới công nghệ, thiết bị trên 20%/năm;

(2) Tăng tỷ lệ các nhiệm vụ KH&CN trong lĩnh vực khoa học kỹ thuật và công nghệ, lĩnh vực khoa học y, dược và lĩnh vực khoa học nông nghiệp trên 60% tổng số các nhiệm vụ KH&CN cấp tỉnh;

(3) Đăng ký bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp cho 100% sản phẩm đặc trưng, sản phẩm làng nghề truyền thống của tỉnh;

(4) 100% các phương tiện đo thông dụng thuộc danh mục kiểm định trên địa bàn tỉnh được kiểm định;

(5) Xây dựng 2 sản phẩm được công nhận là sản phẩm quốc gia; từ 3-5 sản phẩm chủ lực ứng dụng KH&CN thành chuỗi giá trị gia nhập với thị trường trong nước và xuất khẩu.

Để đạt được định hướng phát triển KH&CN trên, cần triển khai đồng bộ các nhiệm vụ và giải pháp sau:

Thứ nhất, Xác lập quan điểm đúng đắn về vai trò nền tảng và động lực của KH&CN trongquá trình tái cơ cấu nền kinh tế, phát triển kinh tế xã hội trong toàn hệ thống chính trị; gắn các mục tiêu, nhiệm vụ KH&CN với các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của từng ngành, từng cấp. Nâng cao nhận thức của cán bộ và người dân để ứng dụng các thành tựu KH&CN trở thành nhu cầu phổ biến trong sản xuất và đời sống XH.

Thứ hai, cn đi mi cơ chế và tăng cưng qun lý nhà nưc vKH&CN, đc bit thc hin nghiêm Lut KH&CN 2013; đổi mới cơ chế quản lý, cơ chế đầu tư, cơ chế tài chính. Hiệu quả ứng dụng thực tiễn cần được xác định là tiêu chí hàng đầu đối với công tác nghiên cứu khoa học.Đẩy mạnh cơ chế đxut đt hàng gắn với cam kết ứng dụng các kết quả nghiên cứu KH&CN thành công vào thực tiễn sản xuất và đời sống xã hội từ các nguồn vốn phát triển kinh tế xã hội. Triển khai áp dụng cơ chế khoán chi và cp phát kinh phí theo “cơ chế quỹ” để thc hin nhim vKH&CN nhằm hn chế dn và đi đến xóa bcơ chế “kế hoch hóa”, thtc, hóa đơn tài chính rưm rà trong vic thc hin nhim vKH&CN. Xác lập cơ chế“hậu nghiệm thu”, xác định cụ thể trách nhiệm, quyền lợi, chế tài đối với các các nhân, tổ chức trong việc ứng dụng kết quả nghiên cứu sau khi nghiệm thu; đề xuất ban hành, xác lập cơ chế xã hội hóa «hậu nghiệm thu» cơ chế hỗ trợ tài chính cho việc thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ.

Thba, nhiệm vụ trọng tâm trong giai đoạn tới là phát triển đồng bộ nghiên cứu, ứng dụng KH&CN trên tất cả các lĩnh vực; tạo nên sự gắn kết giữa nghiên cứu với nhu cầu phát triển sản xuất và đời sống của tỉnh. Nội dung nghiên cứu cần bám sát các mục tiêu và định hướng phát triển kinh tế xã hội, quá trình tái cơ cấu nền kinh tế của tỉnh. Tăng cường ứng dụng KH&CN trong sản xuất, đời sống và công tác lãnh đạo quản lý, tạo sự chuyển biến rõ nét về năng suất, chất lượng và hiệu quả trong các ngành kinh tế, tăng năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Đồng thời, chú trọng đến hoạt động khoa học và công nghệ để phát triển kinh tế - xã hội nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa và các vùng có điều kiện đặc biệt khó khăn, phục vụ xây dựng nông thôn mới.

Tiếp tục thực hiện nhiệm vụ “Đưa khoa học và công nghệ gắn với doanh nghiệp”,gắn kết chặt chẽ nhiệm vụ KH&CN với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Đẩy mạnh hỗ trợ doanh nghiệp phát triển hàng hóa, thương mại hóa sản phẩm khoa học và công nghệ, phát triển tài sản trí tuệ. Tập trung thực hiện cơ chế hỗ trợ doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp; nghiên cứu phát triển các sản phẩm trọng điểm, chủ lực của tỉnh như: cơ khí, ô tô, dệt may, da giày, sâm Ngọc Linh, quế Trà My, các loại dược liệu quý, sản phẩm du lịch, thủ công mỹ nghệ, làng nghề truyền thống… Tiếp tục thực hiện Đề án “Nâng cao năng suất chất lượng sản phẩm hàng hóa của doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2012-2020”

Bên cạnh đó, tăng cường đề xuất đặt hàng của tỉnh để tranh thủ sự hỗ trợ của Trung ương cho các nhiệm vụ KH&CN cấp Quốc gia và các nhiệm vụ KH&CN hợp tác trên địa bàn tỉnh; tham gia tích cực vào các chương trình trọng điểm quốc gia để thu hút các cơ quan Trung ương về đầu tư, phát triển hoạt động KH&CN trên địa bàn tỉnh.

Thứ tư, cn quan tâm đu tư phát trin tim lc KH&CN hơn na, chyếu tp trung vào phát triển ngun nhân lc, xây dng hthng tchc KH&CN. Quy hoạch, đào tạo phát triển, kết hợp với bố trí lại nguồn nhân lực khoa học và công nghệ đồng bộ, cân đối theo hướng chuyên sâu cho từng lĩnh vực, tập trung cao vào các ngành, lĩnh vực ưu tiên theo kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Bên cạnh đẩy mạnh thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của tổ chức KH&CN công lập phù hợp với đặc thù của hoạt động KH&CN, cần tập trung đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, nâng cao năng lực hoạt động nghiên cứu ứng dụng cho  các tổ chức KH&CN và các đơn vị sự nghiệp KH&CN công lập theo hướng đầu tư chiều sâu, có trọng điểm, ưu tiên các ngành phục vụ cho chiến lược phát triển của tỉnh; đủ sức đảm nhiệm công tác nghiên cứu, tiếp nhận, ứng dụng, chuyển giao các tiến bộ khoa học kỹ thuật, cung cấp dịch vụ KH&CN, ...

Thnăm, cn tăng cưng đu tư tài chính cho KH&CN. Btrí ngân sách snghiệp, đầu tư phát triển KH&CN đảm bảo cao hơn mức trung ương phân bổ hằng năm và tăng dần theo yêu cầu phát triển KT-XH, trong đó, cần tập trung mạnh mẽ việc thực hiện cơ chế phân cấp quản lý tài chính, đầu tư phát triển cho KH&CN. Chú trọng khuyến khích phát triển xã hội hoá, đa dạng hoá các nguồn đầu tư cho phát triển tiềm lực, ứng dụng tiến bộ khoa  học và công nghệ. Phát huy vai trò của doanh nghiệp, trọng tâm là doanh nghiệp khoa học và công nghệ nhằm huy động và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực trong việc đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ phục vụ sản xuất và đời sống. Xây dựng Đề án phát triển doanh nghiệp KH&CN gắn với cơ chế khuyến khích đầu tư nghiên cứu khoa học, đổi mới công nghệ và đào tạo cán bộ khoa học, công nhân lành nghề; khuyến khích các doanh nghiệp thành lập Quỹ phát triển KH&CN của doanh nghiệp.

Thứ sáu,tăng cường thông tin, tuyên truyền, phổ biến kiến thức KH&CN phục vụ phát triển KT-XH; phát triển tiềm lực và thị trường KHCN nâng cao năng lực tiếp thu công nghệ của các doanh nghiệp, các cơ sở sản xuất, các hộ nông dân.

Tập trung đầu tư, xây dựng và phát triển Trung tâm Thông tin và thống kê KH-CN  làm đầu mối thông tin, truyền thông khoa học và công nghệ của tỉnh; thực hiện chức năng khai thác, tổ chức dịch vụ chuyển giao nhằm thương mại hóa các kết quả nghiên cứu.

Xác lp cơ chế chia sngun lc thông tin KH&CN gia các tchc, cá nhân một cách có hiệu quả. Duy trì, nâng cao hiệu quả hoạt động của Thư vin đin tvKH&CN; tăng cường kết nối, chia sẻ thông tin với Cơ sdliu quc gia vKH&CN; tiếp tc thc hin và mrng, nâng cao cht lưng các n phm, chuyên mc thông tin KH&CN đến tn cơ s.

Hai mươi năm qua, khoa học và công nghệ Quảng Nam đã đồng hành, gắn liền cùng với sự nghiệp phát triển của tỉnh. Nhiệm vụ khoa học và công nghệ đã, đang và sẽ tiếp tục ảnh hưởng tích cực đến sản xuất – đời sống của người dân Quảng Nam. Ngành khoa học và công nghệ Quảng Nam không thỏa mãn với những thành tựu đã đạt được mà sẽ không ngừng phấn đấu, vươn lên. Với một tỉnh có tiềm lực KH&CN còn khiêm tốn, nguồn lực dành cho KH&CN chưa đảm bảo như Luật định do còn phải đầu tư trên những lĩnh vực ưu tiên hơn,  nhưng với nỗ lực và định hướng phát triển đúng, cộng thêm sự quan tâm hỗ trợ, giúp đỡ của Lãnh đạo tỉnh, của các nhà khoa học tâm huyết với Quảng Nam, ngành khoa học và công nghệ Quảng Nam tự tin vào kết quả hoạt động của ngành mình sẽ góp phần tích cực vào phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh trong những năm tới./.

[Trở về]
 
Tin mới hơn
Những nội dung cần quan tâm trong công tác đăng ký nhãn hiệu, thực hiện quy định về nhãn hàng hóa, gắn tem truy xuất nguồn gốc, mã vạch đối với sản phẩm OCOP
Sớm đưa Luật Chuyển giao công nghệ vào đời sống
Đầu Trước Sau Cuối
Tin cũ hơn
Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Chu Ngọc Anh thăm và làm việc tại Sở KH&CN Quảng Nam
Hội thảo: Nghiên cứu tổng thể sông Trường Giang và vùng phụ cận phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội tỉnh Quảng Nam (ngày: 8/12/2016)
Tập huấn Hoạt động thống kê KH&CN
(22/8/2016) Triển khai các văn bản chỉ đạo của UBND tỉnh
Hội nghị tập huấn về đổi mới công nghệ và quản lý đổi mới tại thành phố Nha Trang tỉnh Khánh Hòa
Những thực phẩm giúp bạn có giấc ngủ sâu hơn
8 hiện tượng tự nhiên khoa học chưa thể lý giải
Những số liệu nghiên cứu về cuộc sống sau khi chết
Việt Nam giành giải nhất sáng chế xe tiết kiệm nhiên liệu châu Á
10 công nghệ sẽ tạo đột phá trong năm 2016
Dấu xưa dinh trấn Thanh Chiêm
Trái đất nặng bao nhiêu?
Thăm và chúc Tết Mẹ VNAH và xã kết nghĩa Trà Tân nhân dịp Tết cổ truyền Bính Thân 2016
Nghiệm thu đề tài KH&CN cấp quốc gia “Nghiên cứu thiết kế xe khách gường nằm cao cấp mang thương hiệu Việt Nam”
Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Nam làm việc với Sở Khoa học và Công nghệ về Nông nghiệp- Nông thôn
Hội nghị tập huấn về nghiệp vụ thông tin KH&CN theo các quy định mới
HOẠT ĐỘNG THÔNG TIN KHCN QUẢNG NAM 10 NĂM NHÌN LẠI
Kiểm tra định kỳ tình hình thực hiện dự án KH&CN "Nghiên cứu thiết kế, chế tạo xe khách giường nằm cao cấp mang thương hiệu Việt Nam"
Họp Hội đồng KH&CN tư vấn nhiệm vụ thuộc Quỹ đổi mới công nghệ quốc gia năm 2015
Hội nghị giao ban khoa học và công nghệ vùng Nam Trung Bộ -Tây nguyên lần thứ 13
Công bố danh mục và trao bằng công nhận danh mục di sản phi vật thể và bảo vật Quốc gia tại Quảng Nam.
Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ làm việc với tỉnh Quảng Nam
Bộ trưởng Bộ Khoa học & Công nghệ thăm và làm việc tại Khu Phức hợp Chu Lai - Trường Hải
Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ trồng cây lưu niệm tại Tượng Đài Mẹ Việt Nam Anh hùng
Hội nghị lãnh đạo các tổ chức thông tin và thống kê KH&CN địa phương lần thứ Nhất
Họp Hội đồng KH&CN tư vấn nhiệm vụ thuộc Quỹ đổi mới công nghệ quốc gia năm 2015
Họp hội đồng KH&CN tư vấn xác định nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh bổ sung năm 2015
Hội thảo bàn về giải phát phát triển R&D tại Thaco Chu Lai
Hội nghị tập huấn công tác thống kê khoa học và công nghệ.
Thông tin KHCN phục vụ nông thôn, nông dân tại Quảng Nam- Thực trạng và giải pháp
Trang 1 của 1 Đầu Trước Sau Cuối