Skip Ribbon Commands
Skip to main content
SKHCN > chitiettin
 

 Chi tiết tin

 
Thực trạng và định hướng ứng dụng các tiến bộ khoa học và công nghiệp trong ngành Nông nghiệp và PTNT tỉnh Quảng Nam
Đăng bởi Lương Thị Thủy .Vào ngày 18/05/2018. Đã xem 353 lượt
Tham luận nhân sự kiện Chào mừng ngày khoa học và công nghệ Việt Nam 18/5

- TS. Lương Thị Thủy-

Sở Nông nghiệp và PTNT Quảng Nam

       Trong những năm qua, mặc dù chịu nhiều tác động bất lợi của thiên tai, dịch bệnh, biến động của thị trường suy giảm kinh tế chung; song nông nghiệp Quảng Nam vẫn duy trì được tốc độ tăng trưởng khá, thu nhập của dân cư nông thôn tăng lên, đóng góp quan trọng vào sự ổn định kinh tế, xã hội chung của tỉnh và bộ mặt nông thôn được cải thiện đáng kể, đó là là: (1) sản xuất nông nghiệp tăng trưởng khá và ổn định (tăng bình quân 4,5%/năm); (2) năng suất và hiệu quả cây trồng, vật nuôi từng bước được nâng lên, chất lượng nông sản cải thiện theo hướng đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm; (3) vốn rừng được tăng cường và kinh tế rừng đã góp phần nâng cao thu nhập vùng đồng bào miền núi; (4) thủy lợi và hạ tầng phục vụ sản xuất được tập trung đầu tư và từng bước hoàn thiện; (5) xây dựng nông thôn mới mang lại kết quả tích cực: Có 71 xã cùng huyện Phú Ninh và Thị xã Điện Bàn được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới. Để có được kết quả đó,  ngành Nông nghiệp và PTNT đã áp dụng đồng bộ nhiều giải pháp, trong đó việc ứng dụng những tiến bộ khoa học công nghệ (KHCN) vảo sản xuất được coi là khâu tạo sự đột phá trong quá trình phát triển của ngành Nông nghiệp. Nhân dịp Hội thảo “ Khoa học và công nghệ phục vụ phát triển kinh tế xã hội tỉnh Quảng Nam”, Sở Nông nghiệp và PTNT  báo cáo tham luận về vấn đề “Thực trạng và định hướng ứng dụng các tiến bộ khoa học, công nghệ trong ngành Nông nghiệp và PTNT tỉnh Quảng Nam”.

1. Thực trạng và một số kết quả ứng dụng các tiến bộ KHCN trong ngành Nông nghiệp và PTNT trên địa bàn tỉnh Quảng Nam

Quảng Nam là tỉnh có phần lớn người dân sống bằng nông nghiệp nhưng điều kiện tự nhiên không mấy thuận lợi, diện tích đất sản xuất nông nghiệp bình quân đầu người ít, đất đai manh mún, ngoài một số diện tích đất ở lưu vực của hệ thống sông Vu Gia – Thu Bồn là được phù sa bồi hàng năm, các diện tích còn lại ở các huyện phía Nam có độ phì thấp; điều kiện thời tiết, khí hậu luôn tiềm ẩn nhiều rủi ro cho sản xuất nông nghiệp như: Vụ Đông Xuân thường gặp thời tiết rét lạnh, vụ Hè Thu gặp nam nóng, khô hạn; bão lũ thường xuyên đe doạ, đặc biệt thời gian gần đây thời tiết có nhiều biểu hiện cực đoan do ảnh hưởng rõ rệt của biến đổi khí hậu. Với đặc điểm điều kiện tự nhiên như vậy, để phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn đòi hỏi ngành Nông nghiệp phải có sự đầu tư nghiên cứu về mùa vụ một cách khoa học; cơ cấu, sử dụng  giống cây trồng, vật nuôi thích ứng, đồng thời ứng dụng các biện pháp KHCN trong thâm canh, chăm sóc và hệ thống canh tác phù hợp để vừa lách tránh thiên tai, vừa đảm bảo gia tăng năng suất và giá trị sản xuất.

1.1. Ứng dụng KHCN  trong sản xuất trồng trọt, bảo vệ thực vật: Lĩnh vực trồng trọt và bảo vệ thực vật là lĩnh vực được ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật mới một cách rộng rãi nhất trong các lĩnh vực của ngành nông nghiệp. Đến giai đoạn hiện nay, có thể nói sản xuất trồng trọt của tỉnh ta được đánh giá cao so với các tỉnh trong khu vực có cùng đặc thù về điều kiện tự nhiên của vùng. Có thể kể đến một số kết quả như sau:

Tăng cường ứng dụng tiến bộ kỹ thuật  trong công tác giống, bao gồm cả việc chọn tạo, du nhập, khảo nghiệm, chọn lọc phục tráng giống phục vụ sản xuất. Nghiên cứu thực nghiệm sản xuất hạt giống lai F1, cấp I hoá giống lúa,... Đây là khâu đột phá quan trọng đưa năng suất lúa tăng cao không ngừng qua các năm. Bện cạnh đó, việc chọn tạo các giống lúa cho sản xuất gạo chất lượng cao, giống cho các vùng khô hạn, nhiễm mặn nhằm ứng phó với các điều kiện biến đổi khí hậuchú trọng tăng năng suất lúa cũng được chú trọng . Đã thành công trong việc nghiên cứu sản xuất giống nấm, sản xuất nấm thương phẩm các loại: Nấm rơm, nấm sò, nấm mộc nhĩ, nấm linh chi; làm chủ công nghệ sản xuất nấm thương phẩm của các loại nấm trên, xây dựng được nhiều mô hình trình diễn và dần phổ biến rộng rãi đến nông dân, tạo thêm việc làm và nguồn thu nhập đáng kể cho nông dân. Các giống cây trồng đặc sản bản địa cũng được chú trọng bảo tồn và phục tráng, tạo cây giống chất lượng nhằm phát triển các sản phẩm có giá trị của địa phương như: Chọn lọc và phục tráng các giống lúa rẫy địa phương; điều tra, bình tuyển, công nhận cây đầu dòng và sản xuất cây giống của các loại cây ăn quả, cây công nghiệp có giá trị như: Bưởi Trụ Đại Bình, Tiêu Tiên Phước, Loòn bon Tiên Phước, Thanh trà Tiên Hiệp.

Trong sản xuất lúa đã ứng dụng đồng bộ các khâu kỹ thuật từ: Sử dụng giống có chất lượng tốt, áp dụng gói kỹ thuật 3 giảm 3 tăng, cơ giới hóa (máy cày, công cụ sạ hàng, máy gặt đập liên hợp) trong các khâu từ làm đất, gieo sạ và thu hoạch ;ngoài ra còn ứng dụng công nghệ sinh học bằng chế phẩm sinh học Trichoderma  trong xử lý phế phụ phẩm nông nghiệp thành phân hữu cơ tại chỗ, với giá thành thấp để bón cho cây lúa. Đặc biệt, từ năm 2014 Sở Nông nghiệp & PTNT đã nghiên cứu ban hành quy trình hướng dẫn tưới nước tiết kiệm cho lúa “ướt khô xen kẽ”, kỹ thuật nay không chỉ tiết kiệm được nước tưới mà còn giúp cho bộ rễ của cây lúa ăn sâu vào tầng canh tác huy động được nhiều dinh dưỡng, lúa cứng cây ít đỗ ngã, ít nhiễm bệnh, năng suất cao hơn.

Trồng lạc thâm canh tổng hợp kết hợp sử dụng công cụ gieo hạt, sử dụng các giống mới, năng suất cao vào sản xuất, ứng dụng chế phẩm sinh học, màng phủ nilon đem lại hiệu quả khá cao và cũng đã hình thành các vùng chuyên canh lạc, tạo ra vùng nguyên liệu để chế biến “Dầu phụng” tại nhiều địa phương trong tỉnh. Tập trung chuyển đổi cây trồng như Lạc Đông Xuân - Ngô Hè Thu, trồng thâm canh Ngô lai kết hợp sử dụng công cụ gieo hạt trên chân đất lúa chuyển đổi. Từ các mô hình luân canh này đã tạo ra các hệ thống canh tác có giá trị và lãi cao hơn sản xuất 2 vụ lúa. Ngoài ra, các giải pháp tiến bộ kỹ thuật mới cũng được áp dụng vào sản xuất như: Sử dụng màng phủ nilon, công nghệ nhà lưới, nhà kính; Ứng dụng hệ thống tưi phun mưa, tưới bán tự động.

Ứng dụng rộng rãi các tiến bộ trong lĩnh vực BVTV như ứng dụng chương trình IPM trong sản xuất cây lúa hình thành nên cáccánh đồng IPM; diệt chuột bằng bã sinh học; mô hình thực hành nông nghiệp tốt trên nhiều loại cây trồng đặc biệt là các loại rau quả nhằm đảm bảo sức khoẻ cho người tiêu dùng cũng như người sản xuất. Ứng dụng các hệ thống canh tác phù hợp phục vụ cho việc tái cơ cấu ngành, nâng cao hiệu quả sản xuất như: Xây dựng thành công các mô hình sản xuất luân canh, xen canh, gối vụ có hiệu quả kinh tế cao trên các chân đất lúa nước trời và các diện tích khó khăn về nước tưới; xây dựng các mô hình sản xuất rau an toàn (rau VietGAP, rau hữu cơ); sử dụng công nghệ nhà lưới,  hệ thống tưới tiên tiến, tiết kiệm nước; sản xuất hoa chất lượng cao; lúa gạo hữu cơ bảo đảm sạch bệnh và an toàn vệ sinh thực phẩm.

1.2. Trong lĩnh vực chăn nuôi, thú y

Đối với công tác giống vật nuôi: Nổi bật nhất là việc ứng dụng công nghệ truyền tinh nhân tạo cho công tác cải tạo đàn bò vàng địa phương, nâng cao tầm vóc, thể trọng và chất lượng đàn bò; Sử dụng heo ngoại lai (3-4 máu) để nuôi thâm canh heo nạc ở đồng bằng và sử dụng heo lai với tỷ lệ máu ngoại phù hợp cho các vùng còn hạn chế thức ăn và điều kiện chăn nuôi;  chọn lọc, khôi phục các giống heo, gà địa phương có giá trị. Du nhập và khảo nghiệm để đánh giá nhân rộng một số giống vật nuôi mới có giá trị từ các địa phương khác như gà Đông Tảo, vịt biển…bước đầu cho thấy có nhiều kết quả khả quan.

Ứng dụng công nghệ đệm lót vào chăn nuôi gia súc, gia cầm theo hướng an toàn sinh học đảm bảo vệ sinh môi trường; công nghệ hầm khí Biogas trong chăn nuôi đang được ứng dụng rộng rãi, góp phần rất lớn trong bảo vệ môi trường. Ứng dụng công nghệ làm mát trong chăn nuôi heo, gà chuồng kín nhằm tạo môi trường chuồng nuôi phù hợp với phương thức chăn nuôi tập trung, thâm canh; đồng thời ứng dụng công nghệ hệ thống máng ăn, máng uống tự động nhằm giảm công lao động trong sản xuất.

Sử dụng tốt kết quả đề tài nghiên cứu phương pháp tiêm phòng ghép vaccine Lở mồm long móng (FMD) và vaccine Tụ huyết trùng (THT) trên trâu bò trong thực tế sản xuất và đã cải thiện được tỷ lệ tiêm phòng trên địa bàn tỉnh.

1.3. Trong lĩnh vực lâm nghiệp

-Công tác giống lâm nghiệp: Cải thiện giống cây trồng nhằm nâng cao năng suất và sản lượng rừng như: Nhân giống cây lâm nghiệp bằng phương pháp vô tính, như: Giâm hom, nuôi cấy mô. Dẫn nhập khảo nghiệm thành công các giống tre lấy măng để bổ sung vào cơ cấu giống cây cho phát triển các sản phẩm ngoài gỗ trong trồng rừng. Thử nghiệm và nhân giống thành công bằng phương pháp nuôi cấy mô một số cây dược liệu.

Nghiên cứu để bố trí cơ cấu loài cây hợp lý trong trồng rừng hỗn giao đã ứng dụng thành công các mô hình canh tác bền vững trên đất dốc; mô hình trồng rừng phòng hộ, trồng rừng sản xuất; mô hình nông -lâm kết hợp đã góp phần vào nâng cao hiệu quả sản xuất và đẩy mạnh phát triển kinh tế vườn, kinh tế trang trại cho vùng trung du, miền núi của tỉnh. Nghiên cứu các phương pháp thích hợp nhằm hạn chế tác động của biến đổi khí hậu đến hoạt động sản xuất lâm nghiệp. Xây dựng các mô hình phát triển lâm nghiệp bền vững, thích ứng trong điều kiện BĐKH. Lưu giữ nguồn giống phục vụ phát triển, bảo tồn các loài cây quý hiếm, đặc hữu của Quảng Nam. Xây dựng bộ sưu tập sống về các loài thực vật, hình thành một số mẫu hệ sinh thái đặc trưng tài nguyên thực vật rừng của tỉnh và vùng phụ cận.

Ứng dụng  công nghệ thông tin vào lĩnh vực kiểm lâm, kết hợp ảnh vệ tinh viễn thám kết nối với máy tính bảng để truy cập diễn biến bất thường của rừng nhằm  mục đích giám sát, bảo vệ rừng từ xa tiết kiệm được thời gian tuần tra và chi phí bảo vệ rừng. 

1. 4. Trong lĩnh vực thủy sản

Trong khai thác hải sản: Đã ứng dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật và trang thiết bị tiên tiến vào nghề khai thác hải sản xa bờ hiệu quả như: Mô hình ứng dụng máy dò ngang trên tàu lưới vây rút chì được thực hiện từ năm 2011-2013 tại xã Tam Quang, Núi Thành; Mô hình lưới rê 3 lớp cải tiến tại Duy Vinh, Duy Xuyên và tại Tam Hòa, Núi Thành. Đây là nghề mới tại Quảng Nam, việc đưa nghề lưới rê vào trong khai thác giúp cho ngư dân có cơ hội tiếp cận và ứng dụng công nghệ mới vào khai thác, góp phần phát triển nghề khai thác hải sản xa bờ được hiệu quả; Mô hình chụp mực 4 tăng gông tại Cẩm Kim, thành phố Hội An, đã giúp cho ngư dân chuyển đổi nghề từ nghề lưới vây sang nghề chụp mực 4 tăng gông; Mô hình khai thác nghề câu cá ngừ đại dương tại Tam Hải, Núi Thành, với khoảng 20 ngư dân tham gia; xây dựng  hầm bảo quảnhải sản bằng vật liệu PU Foam, đèn LED,...

Trong nuôi trồng thủy sản: Đã nghiên cứu và ứng dụng thành công một số tiến bộ kỹ thuật mới nhằm thay đổi phương thức thâm canh và nuôi trồng như: Chuyển đổi mô hình sản xuất từ tôm sú sang nuôi tôm thẻ thâm canh trong ao lót bạt; chuyển đổi đối tượng nuôi từ các ao nuôi không thể nuôi tôm sang nuôi các đối tượng thủy sản nước mặn, lợ có giá trị kinh tế cao như cua, rong, ốc,…; nuôi tôm thẻ chân chân trắng trong ao sử dụng vật liệu màng chống thấm, nuôi thâm canh tôm thẻ chân chân trắng theo qui trình GAP, nuôi thâm canh cá tra, cá điêu hồng, cá rô phi có ứng dụng các chế phẩm sinh học....

 Công tác giống trong nuôi trồng thuỷ sản đạt nhiều kết quả quan trọng, ứng dụng thành công quy trình nuôi tôm 2 giai đoạn nhằm rút ngắn thời gian nuôi chính và giảm nguy cơ mầm bệnh xâm nhập và gây bệnh trên tôm nuôi. Ứng dụng công nghệ để chủ động  để sản xuất nguồn cá giống phục vụ cho nuôi thương phẩm, tiếp nhận và sản suất giống cá tra, tiếp tục thử nghiệm sản xuất một số đối tượng có giá trị kinh tế phục vụ sản xuất. Thử nghiệm thành công mô hình nuôi Hàu đơn thương phẩm tại Quảng Nam.

Mô hình chà - rạn nhân tạo nhằm khai thác bền vững và tái tạo nguồn lợi ven bờ tỉnh Quảng Nam:  Sau khi triển khai, mật độ thủy sản và thành phần các loài trong và xung quanh chà - rạn đã tăng lên. Mô hình hiện đã được chuyển giao cho tổ cộng đồng ngư dân tại thôn Thuận An, xã Tam Hải, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam quản lý, tổ chức các hoạt động. 

Trong việc phòng trừ dịch bệnh: Ứng dụng sinh học phân tử để chẩn đoán bệnh ở các đối tượng nuôi trồng thủy sản; kiểm tra, chẩn đoán bệnh bằng phương pháp PCR, sử dụng các bộ kit để chẩn đoán nhanh, phòng trị có hiệu quả một số bệnh nguy hiểm thường gặp ở tôm sú, tôm thẻ chân trắng, cá tra, cá điêu hồng, cá rô phi....Ứng dụng các chế phẩm sinh học nhằm tăng cường sức đề kháng bệnh và phòng trị có hiệu quả một số bệnh ở tôm, cá nuôi, quản lý tốt môi trường nước ao nuôi; xử lý chất thải từ nuôi trồng thủy sản và thay thế hóa chất, kháng sinh sử dụng trong sản xuất thủy sản (đặc biệt trong nuôi tôm thẻ chân trắng, tôm sú...) góp phần nâng cao hiệu quả nuôi, bảo vệ môi trường, an toàn vệ sinh sản phẩm thủy sản. Ứng dụng vi sinh trong quản lý môi trường và kiểm soát bệnh bệnh trên thủy sản nuôi; mô hình ứng dụng Công nghệ Biofloc trong nuôi tôm thâm canh

1.5. Trong lĩnh vực thuỷ lợi và phát triển hạ tầng nông thôn

 Trong thuỷ lợi và XDCB trong nông nghiệp cũng đã ứng dụng nhiều tiến bộ kỹ thuật mới, như: Sử dụng rộng rãi vải địa kỹ thuật làm tầng lọc xây dựng các công trình kè bảo vệ bờ sông, mái thượng lưu đập đất các hồ chứa nước; Trồng cỏ Vectiver chống xói lở mặt bằng các bãi tràn (công trình Chống xói lở bờ phải đập Đại Cường - sông Vu Gia), đỉnh kè bờ sông; Xây dựng 3 công trình thu nước nhỉ từ đồi cát ven biển (xã Bình Dương, Bình Hải huyện Thăng Bình; xã Tam Tiến - huyện Núi Thành) để phục vụ tưới, đây là dạng công trình có hiệu quả đang được nhân rộng taị vùng cát của tỉnh. Một số giải pháp kỹ thuật công nghệ mới được ứng dụng trong thi công sửa chữa cống Bắc hồ Phú Ninh.

Ứng dụng công nghệ tin học, hệ thống thông tin giám sát và quan trắc tự động trong việc quản lý các hồ chứa nước thuỷ lợi, thuỷ điện nhằm đảm bảo an toàn vận hành và hiệu quả. Triển khai thực hiện dự án hiện đại hóa hệ thống thủy lợi đảm bảo phục vụ nước tưới cho các vụ sản xuất. Úng dụng phần mềm, mô hình thủy lực, thủy văn xây dựng bản đồ ngập lụt theo cấp báo động lũ dự báo ngập lụt khu vực hạ du sông tỉnh Quảng Nam. Ứng dụng công nghệ SMS để cảnh báo sớm thiên tai nhằm chủ động phòng chống và giảm thiểu rủi ro.

Ứng dụng thành công công nghệ Scada quản lý, vận hành tưới tự động hệ thống kênh Phú Ninh; Ứng dụng phổ biến công nghệ tưới phun, nhỏ giọt trên cây trồng tại một số địa phương trên địa bàn tỉnh.

* Những khó khăn: Mặc dù việc ứng dụng khoa học và công nghệ vào sản xuất nông nghiệp trong thời gian qua đã đạt được một số tích cực nhưng vẫn còn một số hạn chế, khó khăn vướng mắc, đó là:

Sản xuất nông nghiệp phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên và thời tiết, nên yếu tố rủi ro lớn. Đầu tư ứng dụng khoa học và công nghệ vào sản xuất, nhất là nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao đòi hỏi vốn đầu tư ban đầu rất lớn và kéo dài trong khi điều kiện khí hậu thời tiết, đất đai ở chưa thực sự thuận lợi, điều này dẫn đến tâm lý e ngại đầu tư sợ rủi ro. Mặt khác, chi phí đầu tư cho sản xuất lớn dẫn đến giá thành sản phẩm cao, gây khó khăn khi cạnh tranh trên thị trường.

 Việc ứng dụng khoa học và công nghệ, đặc biệt là công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp đòi hỏi người nông dân phải có kiến thức sản xuất và trình độ nhất định. Trong khi đó, hiên nay lao động trẻ có trình độ văn hóa nhất định dễ tiếp thu các tiến bộ khoa học và công nghệ thì thường ra thành phố làm việc, còn lại lao động nông thôn chủ yếu là người già và phụ nữ lớn tuổi. Chính vì vậy, việc tiếp thu các kiến thức, quy trình công nghệ mới còn hạn chế.

Thị trường tiêu thụ đầu ra của sản phẩm nông nghiệp không ổn định, xu hướng biến động giảm lớn nên người nông dân rất khó khăn trong ứng dụng KHCN vào sản xuất, nhất là sản xuất quy mô hàng hóa.

          2. Định hướng ứng dụng KHCN vào sản xuất nông nghiệp trong thời gian đến

          Trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam đang hội nhập với các nước trong khu vực và trên thế giới, đã tạo ra áp lực cạnh tranh lớn cho ngành Nông nghiệp Việt Nam nói chung và Quảng Nam nói riêng. Mặt khác, tình hình biến đổi khí hậu thất thường đã và đang tác động bất lợi đến sản xuất nông nghiệp; vì vậy trong thời gian đến định hướng ứng dụng KHCN vào sản xuất nông nghiệp của Quảng Nam là:

Tăng cường đầu tư khoa học công nghệ để tăng năng suất lao động, giảm giá thành sản phẩm, nâng cao lợi nhuận, đảm bảo chất lượng và an toàn vệ sinh thực phẩm; tạo ra sản phẩm hàng hóa và ổn định; đồng thời bảo tồn và phát triển các sản phẩm nông nghiệp đặc hữu của địa phương.

Đẩy mạnh việc ứng dụng các tiến bộ KHCN để tiếp tục chuyển đổi cơ cấu giống cây trồng, vật nuôi; ưu tiên đầu tư đúng mức cho công tác KHCN gắn với chuyển giao, định hướng cho người dân sản xuất theo nhu cầu của thị trường nhằm ổn định khâu tiêu thụ, tăng thu nhập trên một đơn vị sản phẩm và tăng hiệu qủa sử dụng đất; ưu tiên các đề tài ứng dụng , dự án liên quan đến chế biến nông sản; đặc biệt quan tâm đến các chương trình nâng cao trình độ sản xuất, áp dụng tiến bộ KHCN cho nông dân để góp phần phát triển nông nghiệp bền vững.

Tập trung vào các chương trình phát triển nông nghiệp trọng điểm phù hợp với tập quán sản xuất của từng vùng, miền trong tỉnh nhằm mục đích nâng cao năng suất, chất lượng, tạo ra sản phẩm hàng hóa, đảm bào ATVSTP và có khả năng cạnh tranh như: Chương trình chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi, chương trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt (VietGAP, GlobalGAP) cho cây rau, mô hình sản xuất nông nghiệp công nghệ cao, đẩy mạnh đầu tư các mô hình áp dụng cơ giới hóa trong sản xuất, thu hoạch và sau thu hoạch; chăn nuôi, thủy sản theo hướng tập trung đảm bảo an toàn sinh học và vệ sinh môi trường, an toàn thực phẩm.

Đối với các vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào thiểu số cần phải kết hợp tổ chức tập huấn và xây dựng các mô hình trình diễn nhằm chuyển giao kỹ thuật canh tác đơn giản cho nông dân, từng bước nâng cao trình độ thâm canh cây trồng, nuôi dưỡng gia súc đảm bảo ATSH và VSMT, kỹ thuật phòng trừ dịch bệnh gia súc, gia cầm, sâu bệnh hại cây trồng…

Tăng cường hỗ trợ, khuyến khích doanh nghiệp đầu tư sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, lấy doanh nghiệp làm hạt nhân để hỗ trợ ứng dụng khoa học và công nghệ theo chuổi giá trị từ sản xuất đến tiêu thụ thông qua các chính sách hỗ trợ của Trung ương và của Tỉnh; đồng thời thúc đẩy liên kết giữa doanh nghiệp (thu mua, chế biến sản phẩm) và nhóm hộ (sản xuất,  cung ứng nguyên liệu).

 Việc ứng dụng các tiến bộ KHCN vào sản xuất trong lĩnh vực nông nghiệp trên địa bàn tỉnh trong thời gian qua đã góp phần nâng cao nâng cao năng suất, chất lượng nông sản. Nhiều công trình nghiên cứu khoa học, đề tài, dự án, sáng kiến cải tiến kỹ thuật đã được áp dụng vào thực tế sản xuất mang lại hiệu quả kinh tế cao, tạo sự đột phá trong sản xuất nông nghiệp, góp phần vào tăng trưởng kinh tế, tái cơ cấu ngành. Nhờ chú trọng và triển khai tốt lĩnh vực này nên đã góp phần đáng kể vào sự tăng trưởng cao và ổn định của ngành nông nghiệp, góp phần làm thay đổi tập quán canh tác lạc hậu. Tuy nhiên, những việc đã làm được còn quá nhỏ so với đòi hỏi của sản xuất, chưa có những nghiên cứu mang tính đột phá, đi tắt đón đầu. Trong tiến trình nước ta hội nhập sâu, rộng với kinh tế quốc tế, đòi hỏi ngày càng cao về các tiêu chuẩn của các sản phẩm nông nghiệp, hay nói cách khác đòi hỏi tỷ trọng KHCN trong sản phẩm nông sản ngày càng cao. Vì vậy, công tác KHCN trong lĩnh vực nông nghiệp cũng cần có những đổi mới kịp thời để giải quyết tốt những vấn đề đặt ra nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng và tăng thu nhập cho nguời sản xuất./.

[Trở về]
 
Tin mới hơn
Nhà khoa học trẻ người Việt phát hiện 8 loài vi khuẩn mới
Nhà khoa học trẻ người Việt phát hiện 8 loài vi khuẩn mới
Vinh danh 63 nông dân Việt sáng tạo trong sản xuất
Phát hiện loài cỏ nguy hiểm trong lúa mì nhập khẩu vào Việt Nam
Quyết định 2834/QĐ-UBND ngày 20/9/2018 của UBND tỉnh Quảng Nam
Quyết định số 2716/QĐ-UBND ngày 07/9/2018 của UBND tỉnh Quảng Nam
Sắp diễn ra triển lãm kết quả nghiên cứu vùng đồng bằng sông Hồng
Việt Nam sắp trình diễn 500 công nghệ tại TechDemo 2018
Khoa học Mỹ phát báo động khẩn: Hơn 60% loài rùa trên hành tinh sắp bị tuyệt chủng
Tập huấn “Hướng dẫn kỹ thuật sử dụng chế phẩm Trichoderma và phân bón qua lá thủy phân từ trùn quế” tại xã Tam Ngọc, TP Tam Kỳ
Đầu Trước Sau Cuối
Tin cũ hơn
Hội thảo “Khởi nghiệp Sáng tạo Hội An 2018”
Hội thảo kết quả theo dõi mô hình nhân giống và trồng một số cây dược liệu tại Quảng Nam
Nhân tài Đất Việt 2018: Một mùa Giải thưởng mới với rất nhiều điểm khác biệt (nguồn http://nhantaidatviet.vnpt.vn)
Dự án Trường Sơn Xanh tỉnh Quảng Nam do Cơ quan phát triển quốc tế Hoa Kỳ tài trợ chính thức khởi động
Tuyển chọn các nhiệm vụ KH&CN thuộc dự án KHCN cấp nhà nước: Nghiên cứu thiết kế và chế tạo máy kéo 4 bánh đến 50HP mang thương hiệu Việt Nam
Ra mắt cuốn sách “Cách mạng Công nghiệp lần thứ tư – cuộc Cách mạng của sự hội tụ và tiết kiệm”
Hội thảo khoa học “50 năm cuộc tấn công và nổi dậy xuân Mậu Thân - 1968 ở Quảng Nam”
Kết nối sinh viên Quảng Nam tại Huế
Thông báo kết luận của Bộ Khoa học và Công nghệ tại Hội thảo triển khai Đề án khung phát triển sản phẩm quốc gia Sâm Việt Nam được tổ chức vào ngày 10/01/2018 tại Hà Nội
Sở Khoa học và Công nghệ gặp mặt đầu năm mới (Xuân Mậu Tuất)
KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TỈNH QUẢNG NAM VỚI THỰC TẾ SẢN XUẤT - ĐỜI SỐNG
Hội thảo "Mô hình và giải pháp xây dựng, quản lý Khu công nghệ cao (CNC)"
Quảng Nam và Đà Nẵng “chung tay” xây dựng Hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo
Cú hích khởi nghiệp
Lễ ký kết Chương trình phối hợp hoạt động giữa Bộ Khoa học và Công nghệ với UBND tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2018 - 2025
Quảng Nam: Đẩy mạnh hợp tác hỗ trợ khởi nghiệp đổi mới sáng tạo
Hội nghị triển khai nhiệm vụ quốc phòng, quân sự địa phương năm 2018
Thứ trưởng Bộ Khoa học: 'Doanh nghiệp khoa học sẽ được ưu đãi'
Sở Khoa học và Công nghệ Quảng Nam tổ chức Hội nghị tổng kết công tác năm 2017, đề ra phương hướng nhiệm vụ năm 2018
Đảng bộ Sở Khoa học và Công nghệ Quảng Nam tổ chức Hội nghị tổng kết công tác Đảng 2017, phương hướng nhiệm vụ 2018
Tập trung lãnh đạo đổi mới cơ chế quản lý khoa học
KỲ VỌNG CƠ CHẾ ĐỘT PHÁ CHO DOANH NGHIỆP KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
Thúc đẩy thanh niên sáng tạo, khởi nghiệp đổi mới sáng tạo
Toàn văn nội dung giao lưu trực tuyến: “Đưa tiến bộ kỹ thuật về nông thôn miền núi”
Quảng Nam ban hành Kế hoạch Hệ sinh thái khởi nghiệp giai đoạn 2018 - 2025
Công bố 10 sự kiện khoa học và công nghệ nổi bật năm 2016
Công nhận Công viên phần mềm Đà Nẵng là Khu Công nghệ thông tin tập trung
10 bức ảnh vũ trụ ấn tượng của NASA năm 2017
Thông tin KH&CN hạ tầng nền tảng cho hệ sinh thái đổi mới sáng tạo
Hội nghị toàn quốc về công tác thông tin, thống kê KH&CN
Tăng cường vị trí và vai trò của các Trung tâm Ứng dụng tiến bộ KH&CN trong hoạt động đổi mới công nghệ
Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Quảng Nam tham dự sự kiện ứng dụng chuyển giao và đổi mới công nghệ tại Đà Nẵng
LÀNG KHỞI NGHIỆP XỨ QUẢNG
Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ thăm hỏi, động viên cán bộ và nhân dân huyện Bắc Trà My tỉnh Quảng Nam khắc phục hậu quả cơn bão số 12
Quảng Nam: Đào tạo về Tem điện tử và Startup doanh nghiệp
Tam Kỳ kết nối khởi nghiệp sáng tạo Quốc gia
Diễn đàn “Doanh nghiệp Quảng Nam với Cách mạng công nghiệp 4.0 - QuangNam Startup 4.0”
Vi vu miền Tây
Quân khu kiểm tra công tác huấn luyện và công tác quản lý quân số theo tổ chức biên chế năm 2017 tại Ban chỉ huy quân sự Sở Khoa học và Công nghệ Quảng Nam
Bảo vệ thương hiệu Ngọc Linh cho các sản phẩm từ sâm
HỘI THẢO Hoạt động khoa học và công nghệ cấp huyện năm 2017
Ứng dụng KH&CN từ nhiệm vụ KH&CN cấp tỉnh tại Quảng Nam
KHỞI NGHIỆP, NHÌN TỪ VĂN HÓA XỨ QUẢNG
Tọa đàm khởi nghiệp đổi mới sáng tạo - kết nối thành công
Kết nối khởi nghiệp sáng tạo Quảng Nam 2017
Phát hiện gây sốc: Điện thoại làm con người ngớ ngẩn hơn
Phát hiện gây sốc: Điện thoại làm con người ngớ ngẩn hơn
Bế mạc Festival Di sản Quảng Nam lần thứ VI-2017
Hội thảo “Giải pháp phát triển sâm Ngọc Linh”
Bổ sung Sâm Ngọc Linh vào danh mục sản phẩm quốc gia
Trang 1 của 3 Đầu Trước Sau Cuối