Skip Ribbon Commands
Skip to main content
SKHCN > chitiettin
 

 Chi tiết tin

 
Thực trạng và giải pháp tái sử dụng bã thải nấm rơm trên địa bàn huyện Thăng Bình
Đăng bởi Bac Vu .Vào ngày 19/12/2018. Đã xem 311 lượt
Với chủ trương khuyến khích chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi, phát triển làng nghệ xây dựng nông thôn mới, nghề trồng nấm được người dân, các ngành, chính quyền một số địa phương quan tâm đầu tư phát triển.

          Trong những năm gần đây, nghề trồng nấm ở Việt Nam đang rất phát triển, đem lại lợi ích to lớn về mặt kinh tế cho bà con nông dân nói riêng và cho cả nước nói chung, đến nay đã có nhiều hộ trên địa bàn tỉnh Quảng Nam chọn nuôi trồng nấm làm nghề sinh sống chính của gia đình và đã đạt được nhiều kết quả, tập trung ở các huyện như Đại Lộc, Thăng Bình, Duy Xuyên, Điện Bàn,… Các loại nấm được nuôi trồng chủ yếu là nấm rơm, nấm sò, nấm linh chi, nấm mộc nhĩ…

Theo kết quả điều tra, khảo sát huyện Thăng Bình hiện có 7 trên 22 xã, thị trấn có người dân hiện đang sinh sống bằng nghề nuôi trồng nấm là các xã Bình Định Bắc, Bình Trị, Bình Tú, Bình Lãnh, Bình Quý, Bình Phú và thị trấn Hà Lam. Tập trung nhiều nhất ở xã Bình Trị, Bình Tú.

Xã Bình Tú có 20 hộ dân đang nuôi trồng nấm rơm phân bố trên địa bàn 9 thôn Tú Phương, Phước Cẩm, Trường An, Tú Ngọc A, Tú Ngọc B, Tú Cẩm, Tú Nghĩa, Châu Lâm, Tú Mỹ. Số lượng hộ nuôi trồng nấm không nhiều nhưng 100% các hộ dân này đều có thời gian nuôi trồng nấm rơm từ 2 năm trở lên. Khoảng 60% trong số đó có kinh nghiệm nuôi trồng nấm rơm trên 10 năm, đặc biệt có gia đình đã nuôi trồng nấm rơm được 15-17 năm, thậm chí 21 năm. Tại xã Bình Trị, số hộ nuôi trồng nấm gấp gần 5 lần so với Bình Tú - là xã tập trung nhiều hộ trồng nấm rơm nhất trên địa bàn huyện Thăng Bình. Hiện nay, toàn xã có 96 hộ gia đình đang sinh sống bằng nghề nuôi trồng nấm rơm tập trung ở các thôn Vinh Đông, Nam Tiễn, Châu Lâm, Việt Sơn và Vinh Nam. Trong đó, hầu hết các gia đình có thời gian nuôi trồng nấm rơm khoảng 3-4 năm. Số gia đình có kinh nghiệm nuôi trồng nấm từ 10 năm trở lên là 20 gia đình, chiếm hơn 17%.  Ngoài ra, có trên 19% trong tổng số 96 hộ đã nuôi trồng nấm từ 5-10 năm.

Lượng rơm các hộ gia đình sử dụng mỗi tháng cho nuôi trồng nấm rơm là khá lớn. Trung bình một hộ dùng khoảng 4,5 tấn rơm/tháng, có thể chia ra ủ từ 2-4 lần. Tại xã Bình Tú, với 20 hộ dân nuôi trồng nấm, tổng lượng rơm sử dụng mỗi tháng lên tới hơn 100 tấn,  trung bình mỗi gia đình sử dụng khoảng hơn 5 tấn rơm/tháng/hộ. Trong đó, có 12/20 gia đình có lượng rơm ủ mỗi tháng dao động từ 5-10 tấn rơm. Đối với xã Bình Trị, số lượng hộ dân tham gia nuôi trồng nấm cao hơn xã Bình Tú cũng như các xã khác trên địa bàn huyện. Tùy vào số lượng lao động và điều kiện của mỗi gia đình mà lượng rơm ủ mỗi tháng là khác nhau, dao động từ khoảng 1 – 9 tấn/tháng. Trung bình mỗi gia đình sử dụng hơn 4 tấn rơm/tháng.

Quảng Nam là tỉnh có khí hậu nhiệt đới, nóng ẩm, thuận lợi cho hoạt động nuôi trồng nấm rơm, chính vì vậy, nghề này được duy trì ở tất cả các tháng trong năm. Từ kết quả trên có thể suy ra tổng lượng rơm sử dụng mỗi năm cho hoạt động nuôi trồng nấm rơm trên địa bàn 02 xã khoảng hơn 6.000 tấn rơm/năm. Nếu mỗi gối rơm đưa vào trại là 2 kg sau khi trải qua quá trình nuôi trồng sẽ giảm khối lượng còn khoảng 1,5 kg thì mỗi năm có khoảng 4.500 tấn bã thải nấm rơm được thải ra môi trường. Riêng đối với xã Bình Trị, với số lượng hộ nuôi trồng nấm cao nhất trên toàn huyện, tổng lượng rơm sử dụng mỗi năm lên khoảng 5.000 tấn rơm/năm. Như vậy, mỗi năm có khoảng 3.500 tấn bã thải được đưa ra môi trường từ hoạt động này. Nếu lượng bã thải rơm này không được xử lý mà chỉ chất đống ngoài môi trường thì điều gì sẽ xảy ra sau một năm, hai năm hay vài năm nữa? Đây là vấn đề cần được các cấp chính quyền cũng như người dân địa phương quan tâm, có nhận thức đúng và tìm hướng giải quyết.

20180312_101454

            Ảnh: Bã thải được đổ hai bên đường của các hộ nuôi trồng nấm ở xã Bình Trị, huyện Thăng Bình

Qua khảo sát tại 02 xã Bình Trị và Bình Tú cho thấy, bã thải nuôi trồng nấm rơm chỉ được tận dụng một phần vào mùa nắng bằng cách đốt thu tro để bón ruộng, phần còn lại được thải trực tiếp ra môi trường. Bã thải được đổ trong vườn của các hộ nuôi trồng nấm, nhà có vườn rộng thì dành một khu vực để chứa bã thải chờ đốt hoặc hoai mục, các nhà có diện tích nhỏ, hầu hết đất đai đã sử dụng để làm nhà nuôi trồng thì bã thải được đổ ngay cạnh các nhà nuôi trồng nấm rơm, thậm chí một số gia đình còn đổ bã thải lên trên mái nhà. Việc xả thải như vậy thường gây ảnh hưởng đến môi trường nuôi trồng nấm và sinh hoạt của người dân, làm ảnh hưởng đến chất lượng nấm rơm nên hầu hết các hộ dân chọn cách đổ bã thải ra các khu vực công cộng của địa phương như bờ ruộng, ven đường, bờ kênh, thậm chí là đổ xuống kênh mương,... gây ảnh hưởng đến môi trường mỹ quan, giao thông, ngăn cản dòng chảy của kênh mương. Ngoài ra, bã thải chất đống lâu ngày, phân hủy chậm gây rỉ nước, bốc mùi hôi thối, nước rỉ ra từ các đống bã thải sẽ theo nguồn nước ruộng, kênh mương làm ô nhiễm nguồn nước tại khu vực xả thải cũng như các khu vực xung quanh. Muốn lượng bã thải này phân hủy phải mất nhiều thời gian, dưới tác động của nắng mưa, tạo độ ẩm cho các loại nấm mốc dại sinh trưởng, phát triển và phát tán theo nguồn nước và không khí đến các khu vực nuôi trồng, canh tác, ít nhiều gây ảnh hưởng đến năng suất của hoạt động nuôi trồng nấm rơm cũng như trồng trọt và ảnh hưởng đến sức khỏe của con người cũng như vật nuôi.

Với khối lượng bã thải quá lớn sau nuôi trồng nấm mỗi năm như kết quả điều tra ở trên thì cần quan tâm đến công tác xử lý bã thải sau nuôi trồng nấm rơm để giảm thiểu ô nhiễm môi trường nuôi trồng, môi trường sống của người dân. Việc quan tâm đó thể hiện từ nhận thức, trách nhiệm của các hộ gia đình, các cơ quan ban ngành, địa phương trong việc giải quyết bức xúc này.

Để đánh giá thực trạng khách quan về mức độ ô nhiễm và biện pháp xử lý bã thải sau nuôi trồng nấm, chúng tôi tiến hành điều tra khảo sát tại 2 xã Bình Tú và Bình Trị

Bảng 1. Nhận thức người dân về sự ô nhiễm của bã thải sau nuôi trồng nấm

Ô nhiễm môi trường

Số hộ

Tỷ lệ (%)

Bình Tú

Bình Trị

97

83,6

1

96

Không

19

16,4

19

0

(Nguồn: Số liệu điều tra tại địa bàn nghiên cứu, tháng 02 năm 2018)

Qua khảo sát, có 83,6% câu trả lời là bã thải nấm rơm có ảnh hưởng đến môi trường và 16,4% ý kiến cho rằng bã thải nấm rơm không gây ảnh hưởng đến môi trường. Đối với xã Bình Trị, với mật độ các hộ nuôi trồng nấm dày đặc, các hộ tập trung tại một khu vực của thôn đông đúc, người dân ý thức được việc thải bã thải nuôi trồng ra ngoài môi trường là có sự ảnh hưởng nhất định. Trong số 96 hộ đều thống nhất là bã thải nấm rơm có ảnh hưởng đến môi trường và họ mong muốn được hỗ trợ giải quyết lượng bã thải này để hạn chế ảnh hưởng đến môi trường địa phương cũng như chất lượng môi trường nuôi trồng của gia đình.

Về mức độ ảnh hưởng của bã thải nấm rơm đến môi trường

Kết quả điều tra thể hiện qua bảng 2.

Bảng 2. Mức độ ảnh hưởng của bã thải nấm rơm đến môi trường

Mức độ ảnh hưởng

Số hộ

Tỷ lệ (%)

Bình Tú

Bình Trị

Ít ảnh hưởng

6

5,2

0

6

Ảnh hưởng

65

56,0

1

64

Rất ảnh hưởng

26

22,4

0

26

(Nguồn: Số liệu điều tra tại địa bàn nghiên cứu, tháng 02 năm 2018)

Trong 83,6% số hộ đánh giá bã thải nấm rơm có ảnh hưởng đến môi trường, 56% đánh giá bã thải nấm rơm ở mức ảnh hưởng đến môi trường, 22,4% cho rằng bã thải nấm rất ảnh hưởng đến môi trường xung quanh, 5,2% cho câu trả lời là ít ảnh hưởng. Qua điều tra, cho thấy nhận thức về mức độ ảnh hưởng của bã thải sau nuôi trồng nấm rơm đến môi trường và sự cần thiết phải xử lý bã thải này là khá tốt.

Hình thức xử lý bã thải của người dân tại địa phương

Với khối lượng bã thải không hề nhỏ và ý thức về sự ảnh hưởng của nó đến môi trường xung quanh thì người dân địa phương đã và đang xử lý lượng bã thải sau nuôi trồng nấm rơm như thế nào. Dưới đây là kết quả khảo sát về tình hình xử lý bã thải sau nuôi trồng nấm rơm tại địa phương hiện nay.

Bảng 3. Hình thức xử lý bã thải nuôi trồng nấm rơm

Địa điểm

Số hộ điều tra

Số hộ có bả thải vứt bỏ không xử lý

Tỷ lệ

(%)

Xã Bình Tú

20

13

65

Xã Bình Trị

96

89

92,7

Tổng

116

102

87,9

(Nguồn: Số liệu điều tra tại địa bàn nghiên cứu, tháng 02 năm 2018)

Hiện nay, việc tái sử dụng bã thải nấm rơm chỉ ở dạng tự phát. Hầu hết các hộ nuôi trồng nấm không có thời gian quan tâm đến lượng bã thải này. Mặc dù, qua khảo sát hầu hết các hộ đều mong muốn xử lý lượng bã thải này vì nó ít nhiều ảnh hưởng đến môi trường nuôi trồng nấm cũng như môi trường sống của người dân. Theo kết quả điều tra, các phương pháp xử lý bã thải sau nuôi trồng nấm rơm như: đốt, làm phân bón, bán, cho hoặc thải trực tiếp vào môi trường đều được người dân phối hợp sử dụng, chỉ có phương pháp tái sử dụng để nuôi trồng nấm khác là chưa được bà con biết đến hoặc biết nhưng chưa áp dụng lần nào. Phương pháp đốt  chỉ được áp dụng vào mùa nắng, còn mùa mưa thì thải trực tiếp vào môi trường xung quanh. Có đến 87,9% gia đình không xử lý bã thải mà chỉ thải trực tiếp ra ngoài môi trường bằng cách vứt bỏ xung quanh khu vực đất vườn nhà, bụi tre, bờ ruộng, bờ mương, thậm chí đổ xuống hệ thống kênh mương gần khu vực nuôi trồng. Các hộ còn lại không quan tâm đến lượng bã thải này, họ cho các hộ xung quanh hoặc bán cho một số đơn vị mua về để làm phân bón. Tuy nhiên, số lượng các hộ bán được là không nhiều, vì vị trí các gia đình sinh sống bằng nghề nuôi trồng nấm thường không gần các trục đường lớn mà nằm trong ngõ hẹp nên khó khăn trong việc vận chuyển của đơn vị thu mua. Giá thành bán được thường không cao.

Tại xã Bình Trị, 92,7% số hộ chọn cách vứt bỏ bã thải này, đặc biệt là vào mùa mưa và chỉ có lượng bã thải của 21 hộ trong số đó có thể được tái sử dụng bởi một gia đình khác có nhu cầu. Với lượng rơm thải mỗi năm tại Bình Trị là khoảng hơn 3.500 tấn rơm, có đến hơn 3.200 tấn bã thải được đổ trực tiếp vào môi trường, lượng bã thải này sẽ đi đâu, gây ô nhiễm môi trường như thế nào? Cho thấy đây là vấn đề cấp thiết cần được xử lý hiện nay.

Vai trò của chính quyền địa phương đối với các hộ dân nuôi trồng nấm

Vai trò quản lý nhà nước của địa phương sẽ góp phần quan trọng đến ý thức cũng như hành động của các hộ nuôi trồng nấm đối với việc xử lý bã thải sau khi nuôi trồng.

Qua tham khảo ý kiến của các địa phương, đến tháng 02/2018 chưa có báo cáo nào liên quan đến lượng bã thải đưa ra môi trường mỗi năm từ hoạt động nuôi trồng nấm rơm. Các cơ quan quản lý tại cấp xã có nắm được danh sách các hộ dân đã và đang sinh sống bằng nghề nuôi trồng nấm trên địa bàn, tuy nhiên số lượng các hộ dân có thay đổi theo từng năm, chính quyền chưa kịp thời cập nhật. Đặc biệt, về hoạt động sản xuất, sản lượng, khối lượng nấm rơm được sản xuất, lượng rơm được sử dụng, lượng bã thải hằng tháng, hằng năm của mỗi hộ gia đình, cũng như hiện trạng tái sử dụng, hiệu quả của việc tái sử dụng và hình thức xử lý bã thải chưa được địa phương quan tâm cụ thể.

Chính quyền địa phương đã nhận thấy tác hại của bã thải và đã có chủ trương xử lý lượng bã thải nấm nhưng chưa tiếp cận công nghệ cũng như đơn vị tư vấn. Mặc dù các cấp chính quyền có quan tâm, tổ chức tập huấn, tuyên truyền khuyến cáo người dân nói chung và các hộ nuôi trồng nấm nói riêng tái sử dụng chất thải nông nghiệp như rơm rạ, phân chuồng… để sản xuất phân hữu cơ,... chưa được các cấp chính quyền quan tâm tổng hợp và đánh giá.

Công tác theo dõi kiểm tra chỉ đạo của chính quyền địa phương chưa được quan tâm tổng hợp và đánh giá.

         Giải pháp

Để việc đầu tư phát triển nghề trồng nấm trong dân đạt hiệu quả về kinh tế và môi trường, chính quyền địa phương cần có sự quan tâm định hướng phát triển nghề nuôi trồng nấm, đặc biệt là xử lý bã thải, cần tập trung một số giải pháp sau:

- Chính quyền xã cần tăng cường:

+ Tạo môi trường sản xuất thuận lợi cho người dân nhất là cơ sở hạ tầng giao thông, đất đai để đầu tư phát triển trồng nấm và sản xuất phân hữu cơ vi sinh.

+ Thống kê các hộ trồng nấm, lượng bã thải đã xử lý và chưa xử lý thải ra môi trường.

- Hướng dẫn tuyên truyền người dân trong việc xử lý bã thải trong quá trình sản xuất nấm

- Ứng dụng tiến bộ KHCN xây dựng phương án xử lý bã thải với mục tiêu vừa giảm thiểu ô nhiễm môi trường vừa tạo thêm sản phẩm hữu ích phục vụ nông nghiệp mà cụ thể là ứng dụng các chế phẩm vi sinh để sản xuất phân hữu cơ vi sinh chức năng.

- Tạo điều kiện và giao nhiệm vụ cho các HTX đứng ra thu gom bã thải nấm, xử lý chế biến phân hữu cơ vi sinh cung ứng cho người dân, xã, huyện, tỉnh

- Xử lý người dân vi phạm môi trường, giao thông do xả bã thải nấm.

Một số biện pháp tuyên truyền:

- Tuyên truyền nâng cao nhận thức về mức độ ảnh hưởng của bã thải nấm rơm đến môi trường cũng như về nhận thức về bảo vệ môi trường, sự cần thiết phải xử lý, các phương pháp xử lý thích hợp,...

 - Cần tăng cường công tác kiểm tra, giám sát quản lý bã thải sau nuôi trồng nấm rơm: kiểm tra định kỳ hoặc đột xuất các cơ sở nuôi trồng nấm, có chế tài thưởng phạt rõ ràng với các hộ gia đình nuôi trồng đã và chưa xử lý bã thải. Kiên quyết xử lý các gia đình vi phạm Luật bảo vệ môi trường, chưa có hình thức thu gom, xử lý bã thải.

                                                                                                               Tường Vi

 

 

[Trở về]
 
Tin mới hơn
Hội thảo “ Đánh giá hiệu quả mô hình trồng chuối mốc nuôi cấy mô tại xã Trà Tân, huyện Bắc Trà My ”
Đầu Trước Sau Cuối
Tin cũ hơn
Hiệu quả của việc ứng dụng chế phẩm vi sinh vật cải tạo đất và nấm rễ cộng sinh Mycorrhiza trên cây đậu xanh
Kết quả mô hình trồng rau an toàn tại huyện Phú Ninh
Tập huấn hướng dẫn kỹ thuật xử lý môi trường trong và sau nuôi trồng nấm tại xã Bình Trị, huyện Thăng Bình
Trồng bưởi trên đất bạc màu của huyện Phú Ninh
Triển khai phương án hỗ trợ ứng dụng tiến bộ KH&CN để sản xuất phân hữu cơ vi sinh chức năng trên địa bàn tỉnh Quảng Nam năm 2018
Hội thảo “Xây dựng mô hình trồng rau an toàn tại xã Tam An, huyện Phú Ninh”
Triển vọng từ cây ổi lê Đài Loan đến phát triển kinh tế hộ gia đình
Chế phẩm sinh học chitosan giúp kéo dài thời gian bảo quản trái cây
Quy trình kỹ thuật sản xuất phân hữu cơ vi sinh chức năng từ chế phẩm vi sinh FBP
Hiệu quả của việc ứng dụng phân hữu cơ vi sinh, chế phẩm trichoderma cho cây trồng
Xây dựng mô hình trồng thâm canh cây Ổi Lê Đài Loan (Psidium guajava) tại xã Tam Thái và xã Tam Đàn, huyện Phú Ninh
Xây dựng mô hình trồng chuối mốc bằng giống nuôi cấy mô tại xã kết nghĩa Trà Tân, huyện Bắc Trà My
Hiệu quả từ việc ứng dụng phân hữu cơ vi sinh chức năng và chế phẩm Trichoderma vào trồng, chăm sóc cây Sâm Ngọc Linh
Sở Khoa học và Công nghệ và Hội Nông dân tỉnh Quảng Nam triển khai phương án hỗ trợ ứng dụng tiến bộ KH&CN để sản xuất phân hữu cơ vi sinh chức năng tại 30 xã trong năm 2017
Hội thảo xây dựng mô hình trồng thử nghiệm cây Quinoa tại tỉnh Quảng Nam
Hội thảo xây dựng mô hình chăn nuôi “Gà tre Đèo Le” tại huyện Quế Sơn theo hướng bền vững
Hiệu quả từ cơ quan sự nghiệp Khoa học và Công nghệ
Hội chợ Triển lãm Quốc tế lần thứ 5 về công nghệ thí nghiệm, phân tích, chẩn đoán và công nghệ sinh học (Analytica Viet Nam 2017)
Bộ Trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ thị sát vườn sâm Ngọc Linh gốc Tắc Ngo
Sản phẩm của ngành khoa học và công nghệ tại triển lãm thành tựu kinh tế-xã hội 20 năm tái lập tỉnh Quảng Nam
Các công nghệ đã tiếp nhận và làm chủ của Trung tâm Ứng dụng và Thông tin KH-CN Quảng Nam sau 20 năm tái lập Tỉnh (1997-2017)
Ứng dụng chế phẩm vi sinh FBP để sản xuất phân hữu cơ vi sinh chức năng phục vụ sản xuất nông nghiệp bền vững
Hội nghị phổ biến nội dung Chiến lược phát triển KH&CN tỉnh Quảng Nam đến năm 2025, tầm nhìn 2030 và các Chương trình, chính sách phát triển của Bộ Khoa học và Công nghệ
Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Quảng Nam gặp mặt trao tặng Huy hiệu "Vì sự nghiệp xây dựng và phát triển tỉnh Quảng Nam"
Kết quả phân lập tuyển chọn và ứng dụng nấm đối kháng TRICHODERMA tại Quảng Nam
Hội thảo xây dựng thương hiệu rau an toàn Bãi Bồi tại xã Điện Minh,thị xã Điện Bàn
Trung tâm Ứng dụng và Thông tin KH-CN Quảng Nam tham gia Hội chợ - Triển lãm hàng nông sản và sản phẩm đặc trưng tại huyện Nam Trà My
Tập huấn hướng dẫn sử dụng chế phẩm Trichoderma, phân bón qua lá thủy phân từ trùn quế trên các loại cây trồng tại thị xã Điện Bàn và thành phố Hội An
Hội nghị tổng kết hoạt động Trung tâm Ứng dụng và Thông tin KH-CN năm 2015
100 cánh đồng tiền tỷ của nông dân được vinh danh
Nghiệm thu đề tài “Ứng dụng tiến bộ kỹ thuật để xây dựng mô hình trồng mít cao sản có năng suất cao, chất lượng tốt tại Đông Giang, tỉnh Quảng Nam”
Xây dựng mô hình trồng rau an toàn bằng phân hữu cơ vi sinh chức năng, tại huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam
Tin thị trường khoa học công nghệ
Nông dân chế tạo máy đào khoai tây
Xây hầm biogas cho ba lợi ích
Lần đầu tiên Bộ Khoa học tổ chức thi sáng tạo kỹ thuật
Chế tạo thiết bị y sinh - từ ý tưởng đến hiện thực
Người Việt đoạt giải Nhất sáng tạo kỹ thuật Doosan
Máy cấy lúa Nhật Bản lần đầu tiên được sử dụng tại Bến Tre
Trang 1 của 1 Đầu Trước Sau Cuối