Skip Ribbon Commands
Skip to main content
SKHCN > chitiettin
 

 Chi tiết tin

 
TẠO LẬP, QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG NHÃN HIỆU LÀ CƠ SỞ PHÁT TRIỂN CÁC SẢN PHẨM ĐẶC TRƯNG CỦA TỈNH QUẢNG NAM
Đăng bởi Ánh Tuyết .Vào ngày 21/05/2019. Đã xem 57 lượt
Ngày nay, với xu thế hội nhập kinh tế, nền kinh tế thị trường đang ngày càng đòi hỏi các sản phẩm đảm bảo chất lượng cao, giá cả ổn định và mang tính cạnh tranh. Một yêu cầu cấp thiết đặt ra cho các SPĐT của địa phương phải xác định được “tên tuổi và chỗ đứng” trên thị trường trong và ngoài nước

Đối với các sản phẩm đặc trưng (SPĐT) để có được sự nhận biết và sự tin cậy của người tiêu dùng là một nhiệm vụ hết sức khó khăn. Chưa tính đến chất lượng hàng hóa là yêu cầu quan trọng nhất, việc tiếp cận các cửa hàng bán lẻ, các thị trường trong nước và làm cho người tiêu dùng biết đến hàng hóa đòi hỏi phải có khoản đầu tư đáng kể. Với quy mô sản xuất nhỏ lẻ, các SPĐT của địa phương sẽ gặp khó khăn khi phát triển chiến lược marketing, nhất là đối với các sản phẩm nông sản, thủ công mỹ nghệ truyền thống. Vậy có lựa chọn nào để phát triển các SPĐT của địa phương? Để trả lời cho câu hỏi này, các tổ chức sản xuất, kinh doanh sản phẩm cần nghĩ ngay tới việc đăng ký tạo lập quyền sở hữu công nghiệp (SHCN) dưới hình thức nhãn hiệu tập thể (NHTT), nhãn hiệu chứng nhận (NHCN) bên cạnh hình thức chỉ dẫn địa lý (CDĐL) cho các sản phẩm bản địa, đặc hữu, có danh tiếng, đậm tính đặc trưng, chuyên biệt cho một khu vực địa lý, và đó là một trong những giải pháp cần thiết nhất để phát triển sản phẩm.

NHTT, NHCN thường được sử dụng nhằm khuếch trương các sản phẩm mang đặc trưng của một vùng nhất định, hạn chế tình trạng làm hàng nhái đem lại lợi ích cho nhà sản xuất, nhà kinh doanh. Việc tạo dựng NHTT, NHCN trên thực tế phải đi kèm với sự phát triển các tiêu chuẩn nhất định cùng với một chiến lược chung của mô hình quản lý. Khi đó, NHTT, NHCN mới có thể trở thành một công cụ hữu hiệu cho phát triển sản phẩm. Vì vậy, tạo lập nhãn hiệu là việc đầu tiên cần thiết phải làm, nhưng để nhãn hiệu được áp dụng vào thực tế, song hành đó phải có kế hoạch quản lý, sử dụng và phát triển nhãn hiệu. Có như vậy, các SPĐT của địa phương mới có thể phát huy được giá trị.

Quảng Nam là một tỉnh có nền nông nghiệp chiếm ưu thế, sản phẩm nông sản khá đa dạng, phong phú. Qua quá trình phát triển, người nông dân Quảng Nam đã nhận thức và mạnh dạn ứng dụng những tiến bộ kỹ thuật, công nghệ mới vào sản xuất để cho ra những sản phẩm bước đầu đáp ứng nhu cầu tiêu thụ của thị trường địa phương. Nhưng vấn đề đặt ra, để phát triển các sản phẩm một cách bền vững, các sản phẩm cần phải được đầu tư mở rộng sản xuất, tạo đầu ra ổn định, tuân thủ những phương thức sản xuất để có sản phẩm chất lượng cao và hướng đến các thị trường lớn trong và ngoài nước. Đồng thời, xu thế của người tiêu dùng hiện đại là chọn lựa sản phẩm có chất lượng tốt, có thương hiệu, nguồn gốc xuất xứ rõ ràng và đặc biệt đảm bảo những tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm. Mặc dù các SPĐT của Quảng Nam có lịch sử hình thành lâu đời, có danh tiếng nhưng chỉ là danh tiếng truyền miệng, chưa được quảng bá rộng rãi trên thị trường trong nước và quốc tế nên còn gặp nhiều khó khăn trong việc phát huy giá trị, danh tiếng, nhất là trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay. Bên cạnh đó, các vấn đề về chất lượng sản phẩm, mẫu mã, bao bì, nhãn hàng hóa, thị trường tiêu thụ,…của các SPĐT chưa được sự quan tâm [1]đồng bộ của nhà nước, các ngành, các cấp, các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp,…dẫn đến nhiều sản phẩm có thể bị mai mọt dần, thậm chí có thể bị biến mất trên bản đồ đặc sản của tỉnh.

 Một vấn đề khác cần quan tâm là hầu hết các doanh nghiệp, hộ sản xuất, tổ chức hợp tác xã/ hội sản xuất kinh doanh sản phẩm hiểu rất mơ hồ về giá trị tài sản sở hữu trí tuệ (cụ thể là quyền SHCN), không nhận thức được tầm quan trọng trong việc sử dụng nhãn hiệu được bảo hộ như là một lợi thế tích cực trong việc mở rộng đầu tư và cạnh tranh thị trường. Các doanh nghiệp, hộ sản xuất sử dụng các nhãn hiệu một cách tự phát, "mạnh ai nấy làm" và không tuân theo luật định. Do đó, không thống nhất và tạo được sức mạnh tổng hợp nhằm đẩy mạnh việc xác lập, quảng bá và phát triển các nhãn hiệu đã được xác lập trở thành các thương hiệu mạnh.

Vì vậy, việc tạo lập thương hiệu cho các sản phẩm là rất cần thiết, là cơ sở mang lại hiệu quả trong sản xuất và kinh doanh; song song với đó là việc thiết lập cơ chế quản lý, các điều kiện sử dụng các nhãn hiệu, cơ chế khai thác nhãn hiệu cần được đầu tư. Đó là những yếu tố cơ bản, giúp cho đơn vị quản lý và các đối tượng liên quan thuận lợi trong quản lý, sản xuất kinh doanh, giúp cho các SPĐT đạt chất lượng tốt, nâng cao giá trị kinh tế cho sản phẩm và có “thương hiệu chính thức”, góp phần khẳng định được vị thế trên thị trường.

Hình 1. Hệ thống nhận diện sp nước mắm Cửa Khe

Hình 2. Tiêu Tiên Phước

 

Hình 3. Hệ thống nhận diện sp rau Bàu Tròn 

 

 

Hình 4. Hệ thống nhận diện sp bưởi Đại Bình      

                       

Từ khi Nghị quyết số 17/2016/NQ-HĐND ngày 19/7/2016 của Hội đồng nhân dân tỉnh Quảng Nam về “Chiến lược phát triển KH&CN Quảng Nam đến 2025, tầm nhìn 2030” ra đời, công tác quản lý về SHCN được chú trọng, nhiều hoạt động truyền thông về vai trò của quyền SHCN được phổ biến trên nhiều phương tiện, hoạt động tập huấn, hội nghị, hội thảo về lĩnh vực SHCN được đẩy mạnh đã góp phần nâng cao nhận thức của các tổ chức và cá nhân trên địa bàn tỉnh. Đồng thời, UBND tỉnh đã ban hành các cơ chế chính sách về hỗ trợ xác lập quyền SHCN và áp dụng hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến cho các tổ chức, cá nhân trên địa bàn tỉnh. Với những nỗ lực trong hoạt động quản lý sở hữu công nghiệp trong thời gian qua, đã góp phần đáng kể trong việc hỗ trợ các tổ chức, cá nhân đăng ký tạo lập quyền sở hữu công nghiệp dưới hình thức đăng ký nhãn hiệu nói chung và NHTT, NHCN cho các SPĐT nói riêng. Số lượng văn bằng nhãn hiệu được cấp cho các tổ chức tập thể và doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh trong những năm gần đây đã tăng lên đáng kể, là tiền đề nâng cao uy tín các sản phẩm trên thị trường trong và ngoài nước, đồng thời nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Quảng Nam, góp phần thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của tỉnh. Hiện nay trên toàn tỉnh có khoảng gần 40 nhãn hiệu đăng ký dưới hình thức NHTT và NHCN. Ngoài ra, nhằm góp phần nâng cao kiến thức, năng lực xây dựng, khai thác, phát triển và bảo vệ quyền SHCN cũng như nâng cao nhận thức cán bộ các cơ quan nhà nước, doanh nghiệp và cộng đồng dân cư về SHCN, vai trò và giá trị của thương hiệu trong việc phát triển sản phẩm đặc trưng, sản phẩm làng nghề truyền thống nhằm phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của các địa phương trên địa bàn tỉnh; tỉnh đang triển khai thực hiện Kế hoạch số 5308/KH-UBND ngày 26/10/2016 “Tạo lập, quản lý và phát triển quyền sở hữu công nghiệp cho các sản phẩm đặc sản, sản phẩm làng nghề truyền thống của tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2016-2020; theo đó đến nay đã thực hiện tạo lập quyền dưới hình thức NHTT, NHCN cho 22 sản phẩm và thực hiện quản lý phát triển quyền sở hữu công nghiệp cho 11 sản phẩm đặc trưng, sản phẩm làng nghề của địa phương.

 

 

Hình 5. Logo các sản phẩm đặc trưng được bảo hộ quyền SHCN

  

Việc sử dụng nhãn hiệu đã được tạo lập quyền SHCN dưới hình thức NHTT, NHCN mang tên các địa danh trên các sản phẩm có ý nghĩa lớn, thương hiệu này là thương hiệu có tính bền vững cao, được pháp luật thừa nhận và có ấn tượng đối với đại bộ phận người tiêu dùng. Một số sản phẩm sau khi đăng ký xác lập quyền, bước đầu đã tạo được những ưu thế trong hoạt động sản xuất kinh doanh của các tổ chức, cá nhân như giá cả tăng cao, thị trường được mở rộng  và bước đầu đã tạo được lòng tin đối với người tiêu dùng như rau Trà Quế (Hội An), quế Trà My, tiêu Tiên Phước, nước mắm Cửa Khe, đúc đồng Phước Kiều, bưởi Đại Bình, bê thui Cầu Mống, lụa Mã Châu, đèn lồng Hội An,…đây là cơ sở để tiếp tục phát triển các SPĐT của địa phương nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh, phát triển sản xuất hàng hoá. Đồng thời, là hoạt động có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc bảo tồn và phát huy giá trị truyền thống cho các sản phẩm nông, lâm đặc sản, làng nghề địa phương, thúc đẩy cuộc chiến chống lạm dụng và gian lận thương mại, nâng cao nhận thức của người tiêu dùng, tăng sức cạnh tranh của sản phẩm, giúp thúc đẩy tiềm năng phát triển của các nguồn lực địa phương, nâng cao đời sống cộng đồng, đặc biệt là các khu vực nông thôn, miền núi trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế

hiện nay.

Vì vậy, để phát huy hết được giá trị của các nhãn hiệu đã được xác lập quyền dưới hình thức NHTT, NHCN chúng ta cần phải có kế hoạch quản lý và phát triển nhãn hiệu một cách hiệu quả nhất. Một NHTT, NHCN muốn sử dụng có hiệu hiệu quả cần thực hiện các nội dung sau:

Thứ nhất: Xây dựng mô hình tổ chức quản lý đối với từng nhãn hiệu

- Xây dựng mô hình tổ chức quản lý nhãn hiệu:

+ Đối với nhãn hiệu tập thể: chủ sở hữu là các tổ chức tập thể như hợp tác xã, hội, hiệp hội,.... Thành lập Ban kiểm sát hoạt động, các bộ phận chuyên môn giúp việc chủ sở hữu và sự tham gia của các thành viên trong tổ chức tập thể,...

+ Đối với Nhãn hiệu chứng nhận: chủ sở hữu là các cơ quan quản lý nhà nước có thể là UBND tỉnh, UBND các huyện hoặc các sở, ngành liên quan; có cơ quan kiểm soát chứng nhận chất lượng sản phẩm, các bộ phận chuyên môn giúp việc kể cả thành lập tổ chức tập thể để vận hành,...

- Xây dựng cơ chế hoạt động của bộ máy quản lý việc sử dụng nhãn hiệu.

- Bổ sung các điều kiện về nhân lực, cơ sở vật chất, kỹ thuật phục vụ hoạt động của các cơ quan tham gia quản lý việc sử dụng nhãn hiệu.

Thứ hai: Xây dựng hệ thống văn bản làm cơ sở cho công tác quản lý nhãn hiệu

          Để có thể vận hành hiệu quả hệ thống quản lý việc sử dụng các nhãn hiệu, bên cạnh quy chế sử dụng nhãn hiệu, cần xây dựng và ban hành các văn bản khác quy định cụ thể về công tác quản lý; cụ thể như một số văn bản sau:

- Quy trình trao và thu hồi quyền sử dụng nhãn hiệu;

- Quy trình kiểm soát chất lượng sản phẩm mang nhãn hiệu;

- Quy trình kiểm soát việc sử dụng nhãn hiệu;

- Quy trình kiểm soát và quản lý hoạt động sản xuất, kinh doanh sản phẩm;

- Quy trình kỹ thuật sản xuất, thu hoạch, bảo quản và chế biến sản phẩm.

- Quy trình truy xuất nguồn gốc, xuất xứ sản phẩm;

- Quy chế sử dụng mẫu nhãn hiệu trên  hàng hóa, dịch vụ,...

Thứ ba: Cần áp dụng thí điểm vận hành mô hình vào thực tế - tổ chức trao quyền sử dụng nhãn hiệu cho các tổ chức/cá nhân có nhu cầu

          - Áp dụng các văn bản, quy định vào thực tế quản lý.

          - Tổ chức tuyên truyền, tập huấn, hướng dẫn cho các nhà sản xuất, kinh doanh hành hóa, dịch vụ về nhãn hiệu tập thể, nhãn hiệu chứng nhận; phương thức quản lý và sử dụng nhãn hiệu.

- Tổ chức trao quyền sử dụng nhãn hiệu: Chủ sở hữu nhãn hiệu có thẩm quyền xem xét, đánh giá và trao quyền sử dụng cho các tổ chức/cá nhân có nhu cầu. Tổ chức, cá nhân có nhu cầu sử dụng nhãn hiệu phải gửi yêu cầu tới chủ sở hữu đề nghị trao quyền sử dụng theo quy định tại quy chế sử dụng nhãn hiệu. Chủ sở hữu nhãn hiệu chủ trì tiến hành kiểm tra thực tế hoạt động sản xuất, kinh doanh của tổ chức, cá nhân yêu cầu từ đó ra quyết định trao quyền hoặc từ chối trao quyền.

Thứ tư: Phát triển sản phẩm

- Đẩy mạnh các hoạt động liên kết sản xuất, để phát triển giá trị sản phẩm hàng hóa theo chuỗi, nhằm đảm bảo việc truy xuất nguồn gốc xuất xứ và chất lượng của sản phẩm.

- ng dụng khoa học và công nghệ nhằm nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, hạ giá thành sản phẩm nhưng vẫn giữ được những giá trị đặc trưng, truyền thống của sản phẩm.

- Tập trung đầu tư nguyên liệu sản xuất, xây dựng mô hình trồng và chế biến để tạo ra vùng nguyên liệu đảm bảo chất lượng.

- Tiếp tục sử dụng và cải tiến các công nghệ hiện có của doanh nghiệp, địa phương nhằm tạo ra sản phẩm chất lượng, mẫu mã đẹp phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng.

- Tăng cường xúc tiến thương mại để thu hút các nhà đầu tư có năng lực tham gia đầu tư phát triển sản phẩm.

- Tổ chức giám sát việc tuân thủ Quy chế sử dụng nhãn hiệu, kiểm tra quy trình sản xuất, kinh doanh; kiểm tra hàng hóa, dịch vụ lưu thông trên thị trường để đảm bảo sản phẩm cung ứng đến người tiêu dùng đạt chất lượng cao nhất.

Thứ năm: Xây dựng hệ thống phương tiện quảng bá và khai thác giá trị nhãn hiệu

          - Tổ chức việc thiết kế và phát hành các tài liệu giới thiệu hàng hóa, dịch vụ, biểu tượng, hệ thống tem nhãn sử dụng cho nhãn hiệu (tem truy xuất nguồn gốc, nhãn hàng hóa, tờ rơi, poster, biển hiệu quảng cáo,...). Hệ thống tem, nhãn và các tài liệu giới thiệu hàng hóa, dịch vụ được thiết kế với các nội dung theo yêu cầu của chủ sở hữu, người dân trực tiếp tham gia sản xuất, kinh doanh sản phẩm và các tổ chức khác liên quan nhằm quảng bá, giới thiệu hàng hóa, dịch vụ đến đông đảo người tiêu dùng.

          - Triển khai các hoạt động quảng bá nhãn hiệu:

+ Tham gia giới thiệu hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu tập thể, nhãn hiệu chứng nhận tại các hội chợ, triển lãm.

+ Xây dựng các chuyên mục phóng sự, chương trình quảng cáo trên các phương tiện truyền thông (đài phát thanh, đài truyền hình, internet,...) để giới thiệu về hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu tập thể, nhãn hiệu chứng nhận.

+ Thiết kế và vận hành Website giới thiệu và xúc tiến thương mại cho hàng hóa, dịch vụ.

+ Xây dựng phương án thương mại hóa cho hàng hóa, dịch vụ, thiết lập các kênh, mạng lưới tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ ở trong và ngoài nước. Trên cơ sở tính chất và tiềm năng tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ, chúng ta tiến hành các kênh tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ phù hợp. Bước đầu thí điểm tiêu thụ tại các siêu thị thuộc các thành phố lớn, các điểm du khách đến tham quan, mua sắm.

- Khảo sát thị trường, đăng ký bảo hộ nhãn hiệu ở nước ngoài,…

Thứ sáu: Kết hợp phát triển sản phẩm mang nhãn hiệu với việc phát triển du lịch

+ Khôi phục các di tích liên quan đến ngành nghề của sản phẩm – là những địa điểm thăm quan của du khách khi đến làng nghề.

+ Xây dựng các câu chuyện về hoạt động sản xuất kinh doanh sản phẩm, những câu chuyện mang tình huyền thoại về lịch sử hình thành và phát triển sản phẩm.

+ Tổ chức các khu trình diễn về ngành nghề, về sản phẩm để thu hút khách du lịch.

+ Thiết kế, sản xuất các sản phẩm phục vụ du khách.

+ Tổ chức các tour du lịch sinh thái, tự du khách thao tác các công đoạn để tạo ra sản phẩm,...

 Cuối cùng là tìm kiếm mở rộng thị trường nước ngoài

          + Xác lập quyền sở hữu công nghiệp dưới hình thức NHTT, NHCN tại thị trường quốc tế.

          + Tìm kiếm thị trường và xúc tiến thương mại tại thị trường các nước trên thế giới.

        Ngày nay, với xu thế hội nhập kinh tế, nền kinh tế thị trường đang ngày càng đòi hỏi các sản phẩm đảm bảo chất lượng cao, giá cả ổn định và mang tính cạnh tranh. Một yêu cầu cấp thiết đặt ra cho các SPĐT của địa phương phải xác định được “tên tuổi và chỗ đứng” trên thị trường trong nước cũng như thị trường nước ngoài, tăng cường lợi thế cạnh tranh, thúc đẩy việc phát triển sản phẩm và tăng thu nhập cho người dân địa phương. Vì vậy, để thành công, các doanh nghiệp phải quan tâm giải quyết nhiều vấn đề, trong đó không thể bỏ qua hay xem nhẹ việc bảo hộ nhãn hiệu – là một loại tài sản trí tuệ có giá trị./.



 [1] Chỉ dẫn địa lý là dấu hiệu dùng để chỉ sản phẩm có nguồn gốc từ khu vực, địa phương, vùng lãnh thổ hay quốc gia cụ thể.

2.  Nhãn hiệu chứng nhận là nhãn hiệu mà chủ sở hữu nhãn hiệu cho phép tổ chức, cá nhân khác sử dụng trên hàng hóa, dịch vụ của tổ chức, cá nhân đó để chứng nhận các đặc tính về xuất xứ, nguyên liệu, vật liệu, cách thức sản xuất hàng hoá, cách thức cung cấp dịch vụ, chất lượng, độ chính xác, độ an toàn hoặc các đặc tính khác của hàng hoá, dịch vụ mang nhãn hiệu.

3. Nhãn hiệu tập thể là nhãn hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ của các thành viên của tổ chức là chủ sở hữu nhãn hiệu đó với hàng hoá, dịch vụ của tổ chức, cá nhân không phải là thành viên của tổ chức đó.

 

 

 

[Trở về]
 
Tin cũ hơn
PHÁT TRIỂN THƯƠNG HIỆU TƠ, LỤA QUẢNG NAM
Ứng dụng khoa học công nghệ trong việc trồng sâm, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tham gia phát triển sản phẩm sâm
Hội sâm núi Ngọc Linh và quế Trà My Quảng Nam
Đào tạo về an toàn, kiểm soát bức xạ và hạt nhân
Diễn tập ứng phó sự cố bức xạ và hạt nhân trên địa bàn tỉnh Quảng Nam năm 2017
MỘT SỐ TÍNH CHẤT, CHẤT LƯỢNG, DANH TIẾNG CỦA SẢN PHẨM SÂM CỦ MANG CHỈ DẪN ĐỊA LÝ “NGỌC LINH”
YẾU TỐ ĐẶC THÙ VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÙNG TRỒNG SÂM NGỌC LINH
Mở rộng Hội Quế Trà My gắn với phát triển sâm Ngọc Linh
Tập huấn đăng ký và khai thác sáng kiến
NGUYÊN LÝ LÀM VIỆC CỦA MÁY X QUANG VÀ CÁC KHÍA CẠNH TỐI ƯU HÓA AN TOÀN BỨC XẠ TRONG X QUANG CHẨN ĐOÁN TRONG Y TẾ
Tập huấn về công tác thực thi quyền sở hữu trí tuệ
HOÀN THIỆN, NỘP BỔ SUNG VÀ GIA HẠN THỜI GIAN NỘP HỒ SƠ XÉT, CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN CẤP TỈNH
Một số văn bản, tài liệu liên quan đến hoạt động sáng kiến
NGHIỆM THU DỰ ÁN “QUẢN LÝ VÀ PHÁT TRIỂN CHỈ DẪN ĐỊA LÝ TRÀ MY CHO SẢN PHẨM QUẾ CỦA TỈNH QUẢNG NAM”
TẬP HUẤN HƯỚNG DẪN KIẾN THỨC VỀ ỨNG PHÓ SỰ CỐ BỨC XẠ HẠT NHÂN
Quế vỏ Trà My chỉ dẫn địa lý được bảo hộ
Trao quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý Quế Tra My
Cấp lại giấy chứng nhận tổ chức đủ điều kiện hoạt động giám định sở hữu công nghiệp
Cấp giấy chứng nhận tổ chức đủ điều kiện hoạt động giám định sở hữu công nghiệp.
Trang 1 của 1 Đầu Trước Sau Cuối